Showing posts with label Kiến Thức Căn Bản. Show all posts
Showing posts with label Kiến Thức Căn Bản. Show all posts

Sunday, July 19, 2009

Thế nào là một Website tốt?

Các công ty nhỏ ở các nước đang phát triển đã nhận xét rằng Internet là một công cụ đắc lực của chiến lược tiếp thị quốc tế. Tuy vậy, trước khi đầu tư cho một website, điều quan trọng là cần phải xác định lợi ích mà việc đó mang lại có xứng đáng với chi phí bỏ ra không.

Nếu bạn quyết định cần có một website để bán sản phẩm và dịch vụ ra nước ngoài, thì cần phải:

* Nghĩ đến việc tìm kiếm những hiệu lệnh chủ yếu mà bạn sẽ dùng để tìm một website quen biết và đưa những hiệu lệnh đó vào khu vực chủ yếu thuộc website của bạn (tên gọi.v.v). Những công cụ tra cứu sẽ xác định website có liên quan và vị trí của nó trên cơ sở vị trí và tần số của hiệu lệnh.

* Nhanh chóng nắm lấy website bằng cách sử dụng một ít biểu đồ và ảnh. Tốt nhất là lưu giữ những hình ảnh dưới 12 kilobyte để tất cả những người sử dụng có thể nhanh chóng lấy chúng ra. Hãy giữ các hình ảnh động ở mức tối thiểu, trừ khi cần trình bày những hình ảnh đó để tuyên truyền sản phẩm của bạn. Màu sắc nên đơn giản trừ những bộ phận đặc biệt quan trọng trên trang thư của bạn. Tốt nhất là nên hạn chế trong 216 mầu mà người đọc có thể đọc được. Để chọn mầu, bạn có thể liên hệ với địa chỉ http://www.lynda.com/hex.html.

* Thông tin được cung cấp phải phù hợp với điều mà những người đến thăm website của bạn muốn biết. Các tài liệu điều tra cho biết rất ít người đến thăm địa chỉ của bạn lần đầu tiên đã quyết định mua hàng của bạn, do đó cần cung cấp cho họ những thông tin đủ sức hấp dẫn họ trở lại website của bạn nhiều lần. Bạn cũng cần cung cấp đều đặn những thông tin đáng chú ý thuộc lĩnh vực chuyên môn của bạn hiện nay và những thay đổi về các thông tin đó.

* Hệ thống điều khiển phải dễ dàng sử dụng. Hãy thiết kế website của bạn như thế nào để những người sử dụng có thể chuyển dịch dễ dàng từ vị trí này sang vị trí khác trên website của bạn và biết được họ đang ở đâu vào bất cứ lúc nào.

Cung cấp thông tin về công ty của bạn

* Cần nói rõ mục tiêu chiến lược của công ty bạn. Cung cấp thông tin về cơ quan của bạn (kể cả số lượng nhân viên), giới thiệu hình ảnh của những nhân viên chủ yếu để thiết lập quan hệ cá nhân với khách hàng thông qua Internet. Giới thiệu năng lực sản xuất của công ty, quy trình sản xuất, hệ thống kiểm tra chất lượng, quá trình xuất khẩu đã qua, lịch sử và tình hình tài chính, thông báo các dịp tuyển nhân viên.

* Nêu rõ lịch giao hàng, bảo hành, trợ giúp kỹ thuật mà bạn có thể cung cấp, nói rõ phương thức đóng gói sản phẩm, phương thức giao hàng, giá cả, điều khoản trả tiền.

* Giới thiệu phòng phục vụ khách hàng. Mỗi trang Internet của bạn đều cần có số điện thoại, số fax, ký hiệu, địa chỉ gửi thư qua bưu điện. Nói rõ thời gian mà người có trách nhiệm có thể nghe điện thoại. Hãy trả lời các bức thư điện tử trong vòng 1-76 giờ sau khi nhận được thư. Nên thiết kế một đoạn văn với những câu trả lời để thường xuyên trả lời các câu hỏi của khách. Nên có một quyển sách hướng dẫn cách sử dụng Internet, nói rõ dịch vụ sau bán hàng của bạn và bản kê những trung tâm dịch vụ, bản kê những người bán lẻ.

* Thành lập một phòng thông tin làm nhiệm vụ phát hành tin tức, ảnh, tiểu sử những nhân vật hàng đầu, xây dựng bản tin trên Internet.

* Thành lập một trang thông tin nội bộ, chỉ dành riêng cho nhân viên công ty, để niêm yết những thông tin nội bộ như chi phí của một chuyến đi, chương trình nghỉ hè, thông báo nội bộ, những thay đổi về quản lý, hội họp.v.v..

Các vấn đề khác

Liên lạc với các tổ chức có liên quan. Liệt kê các sản phẩm của bạn trên trang Internet để quảng cáo với người mua nước ngoài và liên hệ với họ.

(Theo LantaBrand)

Saturday, May 9, 2009

Thiết kế trải nghiệm người dùng với trang Web

Trong 100 người vào trang web, chỉ có 25 người vào thẳng trang chủ. Đại đa số truy cập ngay đến trang họ cần, một phần nhỏ truy cập từ công cụ tìm kiếm. Bạn muốn lái 90 người vào thẳng trang chủ và đọc một cách hệ thống, trong khi họ không nói. Hãy bắt đầu với Thiết kế Trải nghiệm Người dùng để phân luồng lại lưu lượng truy cập.

Chị Quỳnh Dung: một nhân viên kế toán 42 tuổi, mặc dù vẫn dò dẫm “mổ cò” nhưng rất thành thạo trong việc truy nhập diễn đàn Tài chính- Kế Toán để thảo luận. Nhưng giờ đây chị nói: “Thật khó sử dụng! Họ bắt ai cũng phải qua một trang chủ tràn ngập chức năng và bài viết trước khi cho vào đọc chi tiết. Tôi chỉ cần một diễn đàn đơn giản với nhiều bài viết chất lượng như trước đây”. Phiên toái khi tương tác với giao diện web không chỉ xảy ra với chị Dung mà còn với nhiều chuyên gia công nghệ thông tin như anh Tất Thắng. Vốn là một trưởng phòng kinh doanh phần mềm, mỗi sáng anh đều đọc báo điện tử để cập nhật thông tin thị trường. Nhưng kể từ ngày báo điện tử thay đổi giao diện, anh gần như phải đánh vật các siêu liên kết để tìm chuyên mục anh ưa thích trước đây.

Mới, chưa hẵn đã tốt

Thomas J.Watson, sáng lập viên của Tập đoàn IBM đã nói: “ Thiết kế tốt là kinh doanh tốt”. Nhưng xa hơn thế, chuyện gì đã xảy ra ở hai câu chuyện trên khi người đọc sử dụng những trang web được thiết kế lại? Theo nhận định của Jakob Nielsen, chuyên gia nghiên cứu tính tiện dụng: “Người dùng Internet ngày càng trở nên khó chiều chuộng và chỉ nghĩ cho lợi ích cho bản thân họ. Chỉ có 25% truy nhập vào trang chủ, đa phần họ truy nhập đến trang họ cần hoặc từ kế quả tìm kiếm, họ hoàn thành mục đích và nhanh chóng rời khỏi trang web”.

Điều này cũng khá tương đồng với nhiều trang web tại Việt Nam. Trong quý I/1009, sau khi thay đổi bộ cánh mới, trong thông báo không chính thức một số báo điện tử như VnExpress.net, dantri.com.vn số lượt truy cập đã sụp giảm theo chiều thẳng đứng, nhưng chỉ sau vài tuần tổng lượt truy cập lại tăng nhiều so với trước khi đổi giao diện. Các con số đã chỉ ra số độc giả truy nhập thẳng vào trang web theo cách của họ thay vì dùng công cụ tìm kiếm để tìm tin cần đọc. Những kinh nghiệm được họ tích lũy trong cuộc sống như tương tác với hệ điều hành Microsoft Windows, sử dụng báo điện tử VnExpress.net hay tương tác với màn hình Nokia lại được họ nhớ và áp dụng vào cách họ tương tác với những giao diện web mới. Tuy nhiên với nhiều người, những phiền toái trong việc học cách sử dụng giao diện mới khiến họ nản long. Kết quả là họ đòi hỏi được sử dụng lại những giao điện quen thuộc. Những người khác chấp nhận giao diện mới nhưng mong muốn có kế thừa những gì họ đã quen thuộc để họ sử dụng dễ dàng và đạt mục đích nhanh hơn. Sự kiện tháng 3/2009, mạng xã hội lớn nhất thế giới Facebook thay đổi giao diện nhận được hơn 1,2 triệu bình chọn không thích sử dụng là một ví dụ. Ngay sau sự kiện này, đài BBC đã tổ chức những chương trình bàn luận và Pink Kerry, một thính giả của kênh Radio1 đã nói: “Tôi ghét thiết kế mới của Facebook”. Một thính giả khác cho ý kiến: “Giao diện trước đây có gì sai và tại sao chúng tôi không được lựa chọn có dùng thiết kế mới hay không?” Những câu chuyện này đang ngăn chặn sự sáng tạo của bạn ư? Chắc chắn không làm được điều đó, ngược lại chúng gợi ý cần áp dụng phương pháp Thiết kế Trải nghiệm Người dùng trang web sao cho phù hợp với Việt Nam.

Thiết kế web không đẹp có là sai?

Khi nói đến thiết kế web tại Việt Nam, hầu hế mọi người nghĩ đây là công việc không quá khó và điều đầu tiên được họ quan tâm là trang web có đẹp hay không? Trong một thời gian dài, đa số người dùng nghĩ họ cần trang web đẹp và người thiết kế web cũng dần trôi vào vòng xoáy này. Cho đến khi dự án đi theo chiều hướng xấu, người thiết kế mới giật mình nhận ra thực tế người sử dụng cần một giải pháp nhưng họ chỉ quan tâm kết quả cuối cùng là khiến họ hài long. Tình huống này khiến chúng ta liên tưởng đến con tàu Titanic tráng lệ nhưng xấu số với chuyến hành trình đầu tiên và cũng là cuối cùng… Nhưng với thiết kế web thì lại là một câu chuyên khác. Chúng ta có khả năng xác định phần chìm của tảng băng và đưa ra phương pháp để quản lý chúng. Thiết kế web dựa trên trải nghiệm người dùng là một công việc quan trọng trong phát triển web và phục vụ cho marketing trực tuyến là một trong những nhiệm vụ chính của nó. Trang web không chỉ là hình ảnh doanh nghiệp trên internet, mà trong nhiều chiến dịch marketing trực tuyến chúng còn là điểm tập kết cuối cùng của hầu hết các hoạt động. Khi đã xác định được tầm quan trọng của Thiết kế trải nghiệm Người dùng, việc tiếp theo là làm thế nào để vận dụng chúng hiệu quả trong phát triển trang web.

Mô hình “tảng băng trôi” dưới đây mô tả các yếu tố trong trải nghiệm Người dùng với sản phẩm web nói chúng. Con tàu đang tiến gần đến tảng băng được miêu tả như dự án phát triển trang web của bạn.

Mô hình chỉ ra những yếu tố chính của quá trình phát triển trải nghiệm người dùng cho trang web ngày nay. Các yếu tố thư cấp như kỹ thuật và nội dung không được đưa vào. Do vậy mô hình không mô tả quá trình phát triển cũng như xác định các vai trò của nó trong nhóm phát triển trải nghiệm người dùng của một doanh nghiệp Việt Nam.

Mô hình chia ra hai dòng giao diện web với giao diện phần mềm nếu bạn thiết kế định hướng nghiệp vụ như hệ thống Yahoo! Mail, Google! Document và giao diện hệ thống siêu văn bản như báo điện tử Vietnamnet, trang blog Yahoo! 360 độ nếu bạn đính hướng thông tin. Mỗi dòng giao diện được thiết kế một quy trình riêng để phù hợp với định hướng của chúng. Ở tầng chiến lược, cả hai dòng giao diện nếu tương đồng về các yêu cần người dùng và các mục đích của trang, tuy nhiên bắt đầu từ tầng phạm vi có sự chuyên biệt rõ ràng.

Dưới đây là mô tả cả thuật ngữ trong mô hình Trải nghiệm Người dùng:

Một trong những tiêu chí của phương pháp Thiết kế Trải Nghiệm Người dùng là giúp người sử dụng hoàn thành các mục đích và nghiệp vụ họ mong muốn trên trang web dễ dàng và nhanh nhất có thể. Như Steve krug ví von “ Đừng khiến tôi nghĩ”, đây cũng là tiêu đề của một cuốn sách về tính tiện dụng của ông viết. Khi bạn làm tốt các tiêu chí này cộng với giá trị đem lại của trang web, các trải nghiệm tích cực của người sử dụng sẽ mang lại long trung thành với nhãn của họ.

Tầng bề mặt là bước cuối dùng của Thiết kế Trải nghiệm Người dùng, đồng thời cũng là giai đoạn hoàn thiện công việc thiết kế giao diện web. Xong giai đoạn này, người thiết kế web cũng như nhà điêu khắc đã hoàn thành xong bức phù điêu của mình và đem trưng bày cho người hâm mộ chime ngưỡng.

Quay trở lại với diễn đàn Tài chính – Kế toán, sau hai tháng thay đổi giờ đây họ đã trở lại giao diện cũ, Thành viên cũ lại dần quay về, doanh thu từ tài trợ cũng tăng lên so với trước thời điểm thay đổi giao diện. Jonathan, một thính giả của kênh Radio1 – đài BBC thì thú nhận là càng lúc càng thích giao diện phản đối các thay đổi trong giao diện mới nhưng công lại vẫn chỉ là chàng tí hon so với 175 triệu người đăng ký của Facebook. Hai thực tế này thể hiện thiết kế chất lượng sẽ xây dựng long tin người sử dụng.

Kéo khách hàng đến hay giữ họ ở lại?

Trong thời kỳ suy thoái, lựa chọn thời thượng marketing trực tuyến tại Việt Nam thông qua các dịch vụ như SEO, SEM, quảng cáo banner trên các trang web, mạng xã hội… dường như đang làm mờ dần tầm quan trọng của trang web trong các doanh nghiệp, trong khi bản thân trang web là một công cụ đẩy sức mạnh trong các chiến dịch marketing và thường là điểm dừng cuối cùng của mọi chiến dịch marketing trực tuyến. Tùy theo nhu cầu của bạn, nhưng chi phí cho marketing trực tuyến là không hề rẻ đối với doanh nghiệp lớn nước ngoài. Bạn có thể đổ rất nhiều tiền để kéo người sử dụng đến trang web của bạn, nhưng bản thân trang web lại không có khả năng gây dựng lòng tin và sự trung thành thì bạn đang đổ tiền vào túi thủng. Việc điều tiết lưu lượng truy cập vào từng trang web có nội dung chuyên biệt theo mong muốn của bạn chỉ có hiệu quả trong ngắn hạn và phản kết quả là có thể dự đoán trước. Khi khách hàng vào siêu thị mua kem đánh răng CloseUp họ có một “trải nghiệm người dùng”, khi họ gọi điện đặt chỗ tại quán Ngon họ cũng có một “trải nghiệm người dùng”. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm người dùng, công việc thiết kế trải nghiệm người dùng cho trang web nhằm mục đích tăng trải nghiệm người dùng trên giao diện màn hình, kiến trúc và tương tác của trang web.

Người thiết kế web thường quan tâm làm thế nào để quản lý và trình bày các thông tin, trong khi người sử dụng Việt Nam chỉ quan tâm đến việc dễ dùng, dễ tìm, dễ truy nhập, hấp dẫn và có giá trị. Thiết kế trải nghiệm Người dùng đối với trang web phản ánh tất cả các khía cạnh của tương tác giữa người sử dụng với trang web: làm thế nào để nhận, học và sử dụng được. Nếu bạn là thuyền trưởng của con tàu và đang bắt đầu với Web Marketing, hãy khởi đầu từ Thiết kế Trải nghiệm Người dùng.

(Theo Marketing Vietnam)

Sunday, February 22, 2009

Thiết kế logo thế nào là hiệu quả?

Logo xuất hiện ở khắp nơi, từ namecard cho tới website hay trên sản phẩm của bạn, rơi vào tầm ngắm của khách hàng, nhà cung cấp và báo chí. Nói cách khác, logo được bất cứ ai có mối quan hệ với công ty bạn chú ý tới và là ấn tượng đầu tiên của họ về công ty. Chính vì sự ảnh hưởng ngầm này, logo của bạn buộc phải thiết kế sao cho tạo được ấn tượng tốt về công ty. Giới thiệu công ty một cách rõ ràng và ấn tượng, bạn sẽ được nhắc đến như một nhà chuyên nghiệp trong lĩnh vực của mình. Dưới đây là các tiêu chí giúp các nhà doanh nghiệp đánh giá được chất lượng của logo mình.

Logo nên phản ánh công ty theo cách trung thực nhất

Ấn tượng rõ ràng nhưng bạn thường ngạc nhiên khi biết có bao nhiêu chủ doanh nghiệp muốn “giống như” đối thủ cạnh tranh. Nếu logo của bạn chứa một biểu tượng, nó nên gắn với ngành mà bạn đang kinh doanh, gắn với tên của công ty bạn, đặc tính xác định về công ty hay lợi thế cạnh tranh mà bạn có. Nhưng không vì thế mà giống với logo đối thủ.

Tránh quá chi tiết

Những logo đơn giản được nhận ra và ghi nhớ nhanh hơn những logo phức tạp. Những đường kẻ và chữ đậm biểu hiện tốt hơn các chi tiết mờ nhạt và tất nhiên gây ấn tượng mạnh hơn.

Tuy vậy, bạn không nên thiết kế một logo giản dị thái quá. Một logo tốt phải thể hiện điều gì đó bất ngờ hoặc duy nhất mà không cần phải phóng đại. Hãy thử tham khảo biểu tượng của một nhà chuyên nghiệp: McDonald’s, Nike, Prudential. Hãy chú ý tìm hiểu logo của họ đơn giản mà hấp dẫn đến thế nào. Bất cứ ai trên đường với cơn đói cồn cào cũng đều hiểu được sức mạnh của những biểu tượng logo hết sức rành mạch này.

Logo vẫn đẹp khi được in bằng màu đen trắng.

Nếu logo không sắc nét khi in màu đen trắng, nó cũng sẽ rất khó thuyết phục nếu được in bằng bất cứ màu nào khác. Và in màu thường đắt hơn in đen trắng.

Dù phiên bản chính của logo này rất nhiều màu sắc, bản đơn sắc vẫn thể hiện được rõ ràng tinh thần của logo.

Đảm bảo để logo có thể phóng to, thu nhỏ tùy thích

Logo phải thỏa mãn tối ưu về mặt thẩm mỹ ở bất kỳ kích cỡ nào, to, nhỏ hay trung bình. Làm thế nào logo vẫn rõ ràng khi in trên namecard lẫn trên billboard hàng chục mét.

Logo nên được thiết kế sao cho cân bằng

Nói một cách dễ hiểu nhất là logo của bạn phải “vừa mắt” người nhìn, phần này không lấn át phần kia. Màu sắc và chi tiết không tách khỏi nhau để không tạo nên một logo không cân xứng. Màu sắc, đường nét, hình khối là ba yếu tố quyết định đến tính cân bằng của một logo. Ngoài ra biểu tượng và kiểu chữ trong logo cũng cần hài hoà với nhau. Chẳng hạn, biểu tượng thể hiện sự trang nhã thì font chữ cho tên gọi cũng phải như thế.

Thành công khi thiết kế logo còn được đánh giá qua tuổi thọ của logo. Ngoài ra bạn cần lưu ý 3 dạng của logo: EPS để in ấn, JPG và GIF để hiển thị trên website.

Đừng bao giờ thiết kế hay thay đổi lại logo của bạn nếu không thực sự cần thiết. Nếu bạn muốn làm cho nó sinh động hơn trên website cũng có thể chấp nhận được nhưng không nên làm mất đi cái cốt lõi của logo. Khi nào bạn bắt đầu cảm thấy nhàm chán với logo của chính mình, lúc đấy có thể là thời điểm để tạo ấn tượng mới đối với khách hàng.

(Theo MarketingVietnam)

Sunday, February 1, 2009

Những điều cần lưu ý khi lựa chọn nhà thiết kế Website

Công ty bạn cần có trang web để quảng bá sản phẩm/dịch vụ và bạn đang lưỡng lự trước quyết định chọn ai là người xây dựng trang web đó. Tất nhiên bạn có thể tự làm việc này, nếu ở công ty bạn đã có một đội ngũ các nhân viên kỹ thuật giỏi nghề, hoặc bạn có đủ tiền để tuyển một nhóm chuyên gia thiết kế trang web. Nhưng nếu bạn cũng giống như phần lớn các công ty nhỏ khác – không có nguồn nhân lực và khả năng tài chính cũng chưa cho phép – bạn sẽ phải nhờ đến một công ty thiết kế web chuyên nghiệp.

Trong trường hợp này, bạn cần cẩn thận trong việc lựa chọn đối tác. Một trang web được thiết kế nghèo nàn, cẩu thả có thể khiến bạn tốn kém nhiều tiền của, khách hàng sẽ từ bỏ bạn và danh tiếng công ty cũng ngày một suy giảm theo. Vì thế trước khi ký kết hợp đồng với một nhà thiết kế, bạn hãy xem xét các yếu tố cơ bản sau:

1. Xác định rõ nhu cầu của mình.

Bạn có thể thuê một nhà thiết kế web trong thời gian dài để xây dựng, triển khai và duy trì hoạt động cho trang web của bạn. Nhưng nếu mục đích trang web của bạn chỉ đơn thuần là giới thiệu trực tuyến các thông tin về công ty và sản phẩm/dịch vụ, thì bạn có thể tiết kiệm chi phí bằng cách thuê một nhà thiết kế web để xây dựng và triển khai trang web trong thời gian ngắn, còn bạn sẽ tự thực hiện mọi công việc liên quan đến hoạt động của trang web (chẳng hạn như khắc phục các đường link hỏng) ngay tại công ty. Bạn hãy xác định rõ những mục tiêu và kế hoạch tăng trưởng của công ty để dự liệu về thời hạn thuê dịch vụ của công ty thiết kế web.

2. Nghiên cứu kỹ lưỡng từng ứng viên.

Đây là phân đoạn thiết yếu trong thời gian bạn nghiên cứu để chọn lựa các nhà thiết kế web, bởi vì nó giúp bạn đánh giá chính xác năng lực của họ. Sau khi tìm được một vài nhà thiết kế web mà bạn cảm thấy có vẻ ưng ý nhất – thông qua danh bạ web hay các trang web của đối thủ cạnh tranh – bạn hãy đọc danh mục những công việc và chi phí họ đưa ra ngay trên trang web của mình. Một trang web được coi là đẹp mắt, tiện lợi trong sử dụng và có trình độ chuyên nghiệp cao không nhất thiết phải cầu kỳ hay rực rỡ. Bạn chỉ cần tìm hiểu cảm nhận của các chuyên gia thiết kế để xem những ý tưởng của họ có phù hợp với mình không. Bạn cũng nên chú ý hơn đến các nhà thiết kế có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh của bạn.

3. Đánh giá các dịch vụ của họ.

Hãy xác định xem liệu nhà thiết kế web có đáp ứng được các yêu cầu của bạn không. Nếu bạn muốn kinh doanh sản phẩm trực tuyến, bạn hãy tìm kiếm các công ty có nhiều kinh nghiệm trong việc thiết kế trang web thương mại điện tử. Nếu ứng viên mà bạn quan tâm là một cá nhân, thì bạn cần đảm bảo rằng người này có đủ các kỹ năng cần thiết để xây dựng thành công tất cả những gì bạn đòi hỏi. Bạn phải luôn tỉnh táo trước những “lời đường mật” của các công ty thiết kế web, mà hãy chú ý nhiều hơn đến những dịch vụ cộng thêm do các công ty thiết kế web đưa ra (ví dụ như nội dung viết quảng cáo, tiếp thị và một số dịch vụ khác).

4. Gặp gỡ trực tiếp.

Thông thường, nhà thiết kế web tương lai của bạn, dù là cá nhân hay công ty đa quốc gia, sẽ giới thiệu các đặc tính trang web của họ ra toàn thế giới, thế nhưng bạn cần phải chọn đối tác nào mà mình có khả năng gặp gỡ, làm việc và hợp tác chặt chẽ. Sau khi tiếp xúc với nhà thiết kế web, bạn hãy tự hỏi bản thân một số câu dưới đây và hãy tự trả lời chúng thật trung thực:

- Họ có lắng nghe các nhu cầu của mình không?

- Họ có hiểu vấn đề theo cách hiểu của mình không?

- Họ có hiểu biết về lĩnh vực kinh doanh của mình không?

- Họ có chia sẻ viễn cảnh của mình trong trang web không?

5. Kiểm tra và tham khảo ý kiến.

Việc tìm hiểu về hiệu quả kinh doanh của nhà thiết kế web luôn rất hữu ích, vì nó cho bạn biết nhà thiết kế đó đang hoạt động ra sao. Có thể công ty thiết kế web đó nổi tiếng khắp thế giới nhờ khả năng sáng tạo không ngừng, nhưng nếu họ không hoàn thành trang web của bạn đúng hạn với chất lượng đúng như đòi hỏi của bạn, thì đó không phải là đối tượng mà bạn cần tìm. Bạn có thể không cần đến Fat Hat Design – một cái tên quá nổi tiếng trong ngành thiết kế web và nhãn hiệu kinh doanh với các khách hàng là nhiều công ty, tập đoàn lớn trên toàn nước Mỹ, mà cái bạn cần là một nhà thiết kế web có thể xây dựng một trang web phù hợp nhất với yêu cầu kinh doanh của bạn. Bạn có thể gọi điện thoại và tham khảo ý kiến một số khách hàng cũ của nhà thiết kế web này về việc công ty:

- Có hoàn thành hợp đồng đúng theo hạn định không?

- Có đáp ứng được các yêu cầu đề ra ban đầu không?

- Có nhiệt tình tiếp nhận các đề xuất và câu hỏi của khách hàng không?

- Có nhanh chóng khắc phục sai sót không?

- Có thực hiện công việc theo mức phí đã thoả thuận ban đầu không?

6. Hãy nhìn xa hơn.

Nhiều năm qua, hàng trăm công ty thiết kế web khác nhau trên thế giới với đủ quy mô và trình độ chuyên môn đã tiến hành sát nhập, cắt giảm hoạt động hay đơn giản là đóng cửa. Do không thể biết chắc nhà thiết kế web mà bạn muốn thuê sẽ tiếp tục hoạt động lâu dài hay chuẩn bị phá sản, nên bạn có quyền đưa ra câu hỏi về tính ổn định và lâu dài trong mối quan hệ giữa bạn với nhà thiết kế đó. Bạn cũng nên hỏi trước hình thức thanh toán: có thể trả tiền làm nhiều đợt theo tiến độ công việc thực hiện được, hay phải thanh toán toàn bộ chi phí ngay sau khi ký kết hợp đồng. Những nhà thiết kế nào sẵn sàng chấp nhận phương thức thanh toán từng phần chính là đối tượng mà bạn có thể tin cậy khi giao dịch.

Có thể nói, để trang web của bạn thực sự là một công cụ hỗ trợ kinh doanh, đồng thời đáp ứng được yêu cầu của bạn về các chức năng tìm kiếm, kỹ thuật và cả yếu tố thẩm mỹ, giúp khách hàng cảm thấy thoải mái và thuận tiện khi truy cập, thì điều quan quan trọng là bạn phải tìm được cho mình một nhà thiết kế có năng lực, có khả năng sáng tạo và có kinh nghiệm. Tuy nhiên, bạn cũng cần để ý đến khoản ngân sách dành cho việc này. Đừng để công ty bạn phải hoạt động với một trang web đẹp mắt và một tài khoản có số dư bằng 0.

(Theo BwPortal)

Monday, December 29, 2008

Những yếu tố chính của một Website được thiết kế tốt

Các công ty nhỏ ở các nước đang phát triển đã nhận xét rằng Internet là một công cụ đắc lực của chiến lược tiếp thị quốc tế. Tuy vậy, trước khi đầu tư cho một website, điều quan trọng là cần phải xác định lợi ích mà việc đó mang lại có xứng đáng với chi phí bỏ ra không.

Nếu bạn quyết định cần có một website để bán sản phẩm và dịch vụ ra nước ngoài, thì cần phải:

* Nghĩ đến việc tìm kiếm những hiệu lệnh chủ yếu mà bạn sẽ dùng để tìm một website quen biết và đưa những hiệu lệnh đó vào khu vực chủ yếu thuộc website của bạn (tên gọi.v.v). Những công cụ tra cứu sẽ xác định website có liên quan và vị trí của nó trên cơ sở vị trí và tần số của hiệu lệnh.

* Nhanh chóng nắm lấy website bằng cách sử dụng một ít biểu đồ và ảnh. Tốt nhất là lưu giữ những hình ảnh dưới 12 kilobyte để tất cả những người sử dụng có thể nhanh chóng lấy chúng ra. Hãy giữ các hình ảnh động ở mức tối thiểu, trừ khi cần trình bày những hình ảnh đó để tuyên truyền sản phẩm của bạn. Màu sắc nên đơn giản trừ những bộ phận đặc biệt quan trọng trên trang thư của bạn. Tốt nhất là nên hạn chế trong 216 mầu mà người đọc có thể đọc được. Để chọn mầu, bạn có thể liên hệ với địa chỉ http://www.lynda.com/hex.html.

* Thông tin được cung cấp phải phù hợp với điều mà những người đến thăm website của bạn muốn biết. Các tài liệu điều tra cho biết rất ít người đến thăm địa chỉ của bạn lần đầu tiên đã quyết định mua hàng của bạn, do đó cần cung cấp cho họ những thông tin đủ sức hấp dẫn họ trở lại website của bạn nhiều lần. Bạn cũng cần cung cấp đều đặn những thông tin đáng chú ý thuộc lĩnh vực chuyên môn của bạn hiện nay và những thay đổi về các thông tin đó.

* Hệ thống điều khiển phải dễ dàng sử dụng. Hãy thiết kế website của bạn như thế nào để những người sử dụng có thể chuyển dịch dễ dàng từ vị trí này sang vị trí khác trên website của bạn và biết được họ đang ở đâu vào bất cứ lúc nào.

* Cung cấp thông tin về công ty của bạn.

Cần nói rõ mục tiêu chiến lược của công ty bạn. Cung cấp thông tin về cơ quan của bạn (kể cả số lượng nhân viên), giới thiệu hình ảnh của những nhân viên chủ yếu để thiết lập quan hệ cá nhân với khách hàng thông qua Internet. Giới thiệu năng lực sản xuất của công ty, quy trình sản xuất, hệ thống kiểm tra chất lượng, quá trình xuất khẩu đã qua, lịch sử và tình hình tài chính, thông báo các dịp tuyển nhân viên.

Nêu rõ lịch giao hàng, bảo hành, trợ giúp kỹ thuật mà bạn có thể cung cấp, nói rõ phương thức đóng gói sản phẩm, phương thức giao hàng, giá cả, điều khoản trả tiền.

Giới thiệu phòng phục vụ khách hàng. Mỗi trang Internet của bạn đều cần có số điện thoại, số fax, ký hiệu, địa chỉ gửi thư qua bưu điện. Nói rõ thời gian mà người có trách nhiệm có thể nghe điện thoại. Hãy trả lời các bức thư điện tử trong vòng 1-76 giờ sau khi nhận được thư. Nên thiết kế một đoạn văn với những câu trả lời để thường xuyên trả lời các câu hỏi của khách. Nên có một quyển sách hướng dẫn cách sử dụng Internet, nói rõ dịch vụ sau bán hàng của bạn và bản kê những trung tâm dịch vụ, bản kê những người bán lẻ.

Thành lập một phòng thông tin làm nhiệm vụ phát hành tin tức, ảnh, tiểu sử những nhân vật hàng đầu, xây dựng bản tin trên Internet.

Thành lập một trang thông tin nội bộ, chỉ dành riêng cho nhân viên công ty, để niêm yết những thông tin nội bộ như chi phí của một chuyến đi, chương trình nghỉ hè, thông báo nội bộ, những thay đổi về quản lý, hội họp.v.v..

Các vấn đề khác.

Liên lạc với các tổ chức có liên quan. Liệt kê các sản phẩm của bạn trên trang Internet để quảng cáo với người mua nước ngoài và liên hệ với họ.

(Theo LantaBrand)

Monday, October 20, 2008

25 nhân vật quyền lực nhất thế giới Web năm 2008

Tạp chí uy tín BusinessWeek vừa công bố danh sách 25 người có ảnh hưởng lớn nhất thế giới ảo năm 2008. Đây là những nhân vật được xem là có ảnh hưởng lớn nhất đối với sự tiến bộ của thế giới web trong năm nay.

1. “Kẻ mở đường” Steve Ballmer (Microsoft.com)

Steve Ballmer có một công việc không giống ai. Đó là tìm ra được con đường đưa Microsoft trở thành một tên tuổi trên thế giới mạng Internet mà không làm phương hại đến vị thế thống trị của hãng trong lĩnh vực phần mềm dành cho PC để bàn. Bên cạnh đó, ông phải khôi phục lại lòng tin của khách hàng vào hệ điều hành Windows vốn đã bị Vista “vét cạn” và dẫn dắt cả công ty trở lại đúng con đường cần đi sau “thất bại cay đắng” trong việc “đuổi bắt” Yahoo.

Hiện doanh thu bình quân mỗi tháng của Microsoft khoảng 1,8 tỉ USD. Song Microsoft có vẻ như đang yếu thế hơn Google về mặt chiến lược kinh doanh, nhất là trong tình hình phần mềm cho PC để bàn đang có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ lên web. Bộ phận kinh doanh dịch vụ quảng cáo của công ty này liên tục thua lỗ. Dịch vụ tìm kiếm chỉ chiếm được 8,3% tổng yêu cầu tìm kiếm của riêng thị trường Mỹ trong tháng tám vừa qua. Theo đuổi Yahoo cũng chỉ vì Microsoft muốn bù đắp những điểm yếu này. Nhưng đáng tiếc chuyện này đã không thành. Và Ballmer giờ đây phải tự mình tìm hướng đi riêng mà không có sự trợ giúp của vị chủ tịch danh tiếng Bill Gates - người đã chính thức về hưu hồi tháng sáu vừa qua.

Thông tin cá nhân: Steven Anthony Ballmer (sinh ngày 24/3/1956 tại Detroit, Michigan) là một doanh nhân người Mỹ và là Giám đốc điều hành của Tập đoàn Microsoft từ tháng 1/2000. Ballmer là người đầu tiên trở thành tỷ phú (đô la) theo giá trị cổ phiếu thu được với vai trò là nhân viên của một tập đoàn mà ông không phải là người sáng lập hay có quan hệ họ hàng của người sáng lập. Trong Bảng xếp hạng những người giàu nhất thế giới năm 2007 của Tạp chí Forbes, Steve Ballmer được xếp là người giàu thứ 31 trên thế giới, với tài sản ước tính trị giá 15 tỉ USD.

2. “Thống soái” Mitchell Baker (Mozilla.org)

Bốn năm trước đây khi khai sinh ra Firefox, Mitchell Baker - người được biết đến nhiều nhất bằng cái tên “Lizard Wrangler” trong nội bộ Mozilla Foundation - đã coi trình duyệt mã nguồn mở này là con bài chiến lược để hạ gục Internet Explorer (IE). Tôn chỉ mà bà Baker theo đuổi là hướng tới một thế giới web mở.

Cho đến nay tổng thị phần của Firefox trên thị trường trình duyệt toàn cầu đã lên tới con số gần 20%. Còn Internet Explorer từ chỗ chiếm tới 95% thị phần đến nay chỉ còn trong tay khoảng gần 72%. Và mọi website đều chấp nhận cả hai loại trình duyệt, không hề có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào. Nhưng nay Firefox lại đang phải đối mặt với một thách thức mới. Đó là trình duyệt Chrome của “gã khổng lồ tìm kiếm” Google chính thức ra mắt công chúng ngày 01/9 vừa qua. Bà Baker tuyên bố “thách thức mới sẽ là động lực buộc Mozilla phải nỗ lực hết sức mình”. Không những thế Mozilla còn đang muốn xâm nhập sang thị trường trình duyệt di động.

Thông tin cá nhân: Winifred Mitchell Baker, thường được biết đến với cái tên Mitchell Baker, là chủ tịch của tập đoàn Mozilla Foundation đồng thời là chủ tịch và cựu tổng giám đốc điều hành của Mozilla Corporation, một công ty con thuộc Mozilla Foundation. Tập đoàn này tập trung phát triển mã nguồn mở những ứng dụng Mozilla trên Internet bao gồm trình duyệt web Mozilla Firefox và hệ thống email Mozilla Thunderbird. Năm 2005, tạp chí Time bầu chọn bà Baker vào danh sách 100 người quyền lực nhất thế giới.

3. “Kẻ cách tân” Jeff Bezos (Amazon.com)

Bằng cách giữ giá cổ phiếu Amazon.com lên mức cao nhất từ trước đến nay trong cả năm 2007, Jeff Bezos đã có cái cớ để đập tan mọi chỉ trích cho rằng hãng đang đầu tư quá mạnh tay vào công nghệ và giảm mức phí chuyển hàng. Nhờ đó mà cái công ty Bezos sáng lập nên 14 năm trước giờ đây mới có thể tập trung đầu tư hết sức vào những lĩnh vực nằm trong “sở thích” của ông.

Cho dù đó là nền tảng sách điện tử (e-book) Kindle hay dịch vụ điện toán đám mây dành riêng cho doanh nghiệp muốn lưu trữ dữ liệu trên hệ thống máy chủ khổng lồ của Amazon, hay một cái gì khác nữa thì mục tiêu cuối cùng mà Bezos cam kết thực hiện vẫn là mang lại một dòng doanh thu mới cho Amazon.

Thông tin cá nhân: Jeffrey Preston Bezos (sinh ngày 12/1/1964) là người sáng lập, chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc điều hành của Amazon.com. Trước khi sáng lập Amazon vào năm 1994, ông là một nhà phân tích tài chính cho hãng D. E. Shaw & Co. Bezos từng là Nhân vật của năm do tạp chí Time bình chọn vào năm 1999.

4. “Những ông trùm tìm kiếm” Sergey Brin, Larry Page, và Eric Schmidt (Google.com)

Bộ ba lãnh đạo điều hành Google - gồm giám đốc điều hành (CEO) Eric Schmidt, chủ tịch phụ trách sản phẩm Larry Page và chủ tịch phụ trách công nghệ Sergey Brin - có thể nói là nhóm làm việc ăn ý với nhau nhất ở Google.

Nhiệm vụ của những con người này là làm thế nào có thể kiểm soát được tốc độ phát triển tưởng chừng không thể phanh lại của một công ty với hơn 18.000 nhân viên và mức doanh thu dự kiến cho năm nay lên tới 16,2 tỉ USD - tăng 53% so với năm ngoái. Tình trạng suy thoái mạnh của nền kinh tế hiện nay dường như cũng không thể làm chậm bước chân của Google tiến lên đoạt lấy vị trí “thống soái” trên thị trường tìm kiếm web và quảng cáo tìm kiếm toàn cầu.

Nhưng thành công lớn và nhanh chóng cũng mang lại cho họ không ít thách thức. Có thể kể đến ở đây là sự phản đối của các đối thủ cạnh tranh, các nhà quảng cáo trực tuyến và thậm chí là cả các cơ quan chính phủ đối với “sức mạnh ngày một bành trướng” này của Google. Chính vì thế, nhiệm vụ của bộ ba Brin, Page và Schmidt là phải làm thế nào để cả thế giới hiểu được câu khẩu hiệu của hãng “Don’t be evil” (Chúng tôi không phải là những con quỷ khát máu. Chúng tôi không làm hại ai).

Thông tin cá nhân: Sergey Brin (sinh ngày 21/08/1973 tại Moskva, Nga), là một doanh nhân người Mỹ và là người đồng sáng lập Google cùng với Larry Page. Brin hiện giờ là Giám đốc Kỹ thuật phụ trách công nghệ của Google. Trị giá tài sản ước tính khoảng 16,16 tỉ USD vào năm 2007 giúp anh đứng vị trí thứ 26 trong danh sách những người giàu nhất thế giới. Anh cũng là tỉ phú trẻ thứ 4 ở Hoa Kỳ.

Lawrence Edward "Larry" Page (sinh ngày 26/3/1973 tại Lansing, Michigan) là một nhà doanh nghiệp Mỹ, người đồng sáng lập ra công cụ tìm kiếm Google cùng với Sergey Brin. Page hiện đang là Giám đốc Sản phẩm tại Google và có tài sản ước tính là 16,6 tỉ USD. Anh chia sẻ vị trí 26 trong danh sách những người giàu nhất thế giới của tạp chí Forbes năm 2007 cùng với Sergey Brin.

Eric Emerson Schmidt (sinh ngày 27/4/1955 tại Washington, D.C.) là chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của Google Inc. và là thành viên hội đồng quản trị của hãng Apple.

5. “Nhà đầu tư” Jeff Clavier (softtechvc.com)

Là người từng có kinh nghiệm đầu tư vào không ít các công ty web 2.0 nên năm ngoái Jeff Clavier đã quyết định đứng ra thành lập một công ty quản lý quỹ đầu tư riêng có tên là SoftTech VC đặt trụ sở ở Palo Alto (California, Mỹ).

Mặc dù không nổi tiếng trên mặt báo như người đồng nghiệp Michael Moritz ở Sequoia Capital hay John Doerr của Kleiner Perkins Caufield & Byers nhưng Jeff Clavier lại là một người mà hầu như tất cả các công ty trong lĩnh vực web 2.0 đều tìm đến. Lý do rất đơn giản bởi Clavier có con mắt rất tinh tường, có thể nhận diện được tiềm năng phát triển của các doanh nghiệp mới thành lập. Năm trong số những công ty của Clavier đã giành được rất nhiều thành công và ngày nay đã trở thành một phần trong những tên tuổi lớn như Yahoo, AOL… thông qua các vụ sáp nhập.

Thông tin cá nhân: Jeff sinh ra và lớn lên tại Pháp. Ông được hưởng nền giáo dục tân tiến tại quốc gia này trong lĩnh vực Khoa học máy tính. Kể từ năm 2000, ông tận hưởng một cuộc sống vừa hiện đại vừa yên bình cùng với vợ và hai con tại thung lũng Silicon.

6. “Gấu bố” Paul Graham (Ycombinator.com)

Được đào tạo để trở thành một lập trình viên nhưng Paul Graham lại không nổi tiếng trong giới công nghệ với nghề nghiệp đã chọn mà lại nổi tiếng nhờ vào bài viết “Phương pháp xây dựng một doanh nghiệp thành công”. Vài năm sau đó, Graham đã đầu tư thành lập Y Combinator theo đúng như những gì ông đã trình bày trong bài viết nói trên. Y Combinator là một công ty đầu tư tài chính chuyên hỗ trợ nguồn lực cho công ty công nghệ. Một năm hai lần Y Combinator lại chọn ra một số doanh nghiệp trẻ để trao tặng nguồn vốn khoảng 20.000 USD nhằm giúp những doanh nghiệp này có thể biến ý tưởng của họ trở thành hiện thực. Trang web tin xã hội Reddit là một trong những thành công nhất được Y Combinator đầu tư theo phương thức này. Năm 2006, Reddit được Condé Nast Publications mua lại.

Thông tin cá nhân: Paul Graham (sinh năm 1964) là nhà đầu tư mạo hiểm, lập trình viên kiêm nhà văn tiểu luận. Ông là tác giả của các cuốn On Lisp (1993), ANSI Common Lisp (1995), và Hackers & Painters (2004).

7. “Blogger chính trị” Arianna Huffington (Huffingtonpost.com)

Khi cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đang ngày một đến gần hơn thì trang blog chuyên về vấn trị của Arianma Huffington càng thu hút được nhiều người đọc. Đây đã trở thành một địa chỉ không thể bỏ qua của giới truyền thông Washington cũng như những cử tri cánh tả.

Mỗi tháng trang blog của Huffington đón tới hơn 8 triệu lượt người truy cập đọc tin, bình luận, thảo luận về các tin tức mới cũng như các vấn đề chính trị. Có thể nói Huffington đã lái mọi cuộc tranh luận trên các phương tiện truyền thông phải tập trung vào những vấn đề mà bà đã trình bày trên trang blog cá nhân hoặc đã từng đề cập đến trong những lần xuất hiện trước công chúng.

Tháng sáu vừa qua, bà Huffington cho biết đang lên kế hoạch xây dựng một website tin tức địa phương dành riêng cho người dùng ở khu vực thành thị.

Thông tin cá nhân: Arianna Huffington (tên khai sinh là Arianna Stassinopoulos, sinh ngày 15/7/1950) là một nhà văn, một người hoạt động trong lĩnh vực truyền thông nổi tiếng tại Mỹ. Bà là nhà sáng lập ra tờ The Huffington Post, một trang tin điện tử trực tuyến có tính tương tác cao với độc giả.

8. “Ông cố vấn” Joi Ito (Joi.ito.com)

Ai có thể ngờ được rằng một cậu sinh viên bỏ học Joi Ito và đã từng là một DJ làm việc trong các hộp đêm lại trở thành một trong những nhà tư tưởng hàng đầu trong thế giới web với rất nhiều bài viết sắc sảo về các công nghệ mới nhất hiện nay như game online trực tuyến đa người chơi World of Warcraft hay mạng xã hội ảo.

Không những thế người đàn ông gốc Nhật này còn là một doanh nhân, một cổ đông chiến lược trong hàng loạt các công ty như Flickr hay Six Apart, cũng như là thành viên hội đồng quản trị của nhiều doanh nghiệp như Socialtext và Technorati.

Bên cạnh những công việc nói trên, Joi Ito còn là giám đốc điều hành tổ chức phi lợi nhuận Creative Commons lấy mục tiêu trợ giúp các nhà văn, nghệ sĩ… trình bày suy nghĩ về việc các tác phẩm của họ sẽ được sử dụng như thế nào trên thế giới mạng Internet.

Thông tin cá nhân: Joichi Ito (sinh ngày 19/6/1966) thường được biết đến dưới cái tên Joi Ito, là một nhà hoạt động xã hội, doanh nhân và nhà đầu tư mạo hiểm. Ông nổi danh trong làng công nghệ thông tin và Internet với vai trò là người sáng lập ra các công ty như PSINet Nhật Bản, Digital Garage và Infoseek Nhật Bản. Bên cạnh đó, Ito còn là tổng giám đốc điều hành của công ty Creative Commons.

9. “Quân sư” Steve Jobs ( Apple.com)

Không chỉ thành công trong việc kéo Apple thoát khỏi “một cái chết yểu” sau khi trở lại nắm giữ vị trí giám đốc điều hành hồi năm 1996, Steve Jobs còn châm ngòi cho một cuộc cách mạng về phương thức thưởng thức âm nhạc, phim ảnh, chương trình truyền hình… của chúng ta ngày hôm nay.

Có thể nói iTunes hiện đang là dịch vụ bán lẻ nhạc số lớn nhất tại trị trường Mỹ - tính trên cả phương diện quy mô sản phẩm lẫn doanh thu hữu hình. Chỉ tính riêng từ tháng 6/2008 đến nay iTunes đã bán được tổng cộng 5 tỉ bản nhạc số khác nhau. Năm 2007, Jobs còn trở thành tâm điểm của cả thế giới không dây với việc tung ra chiếc điện thoại di động iPhone đình đám, thách thức cả những “tên tuổi già cỗi” như Motorola hay RIM.

Thông tin cá nhân: Steven Paul Jobs (sinh ngày 24/2/1955) là tổng giám đốc điều hành của hãng máy tính Apple, ông là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất ở ngành công nghiệp vi tính. Sáng lập Apple năm 1976 (cùng Steve Wozniak), ông đã phổ biến máy vi tính vào đời sống hàng ngày với chiếc máy Apple II. Sau này, ông là một trong những người đầu tiên trông thấy tiềm năng thương mại của GUI và chuột được phát triển tại Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto của Xerox, và những công nghệ này đã được kết hợp chặt chẽ với dòng máy huyền thoại Apple Macintosh. Jobs còn là chủ tịch Pixar Animation Studios, một hãng phim hoạt hình nổi tiếng thế giới.

10. “Nhà làm phim” Jonathan Kaplan (Theflip.com)

Thay đổi một thói quen không phải là chuyện dễ. Nhưng vị giám đốc điều hành Pure Digital Technologies Jonathan Kaplan đã làm được điều đó khi cho ra đời chiếc máy quay video gia đình tác động mạnh đến các dịch vụ chia sẻ video số trực tuyến. Cái giá mà ông phải trả là một quãng thời gian kéo dài bảy năm.

Chiếc máy quay Flip giá 130 USD đã thật sự mang đến cho người dùng sự tiện lợi tối đa trong việc quay video. Chỉ cần đưa đối tượng muốn quay vào trong khung màn hình nhỏ của Flip và bấm nút là bạn đã có được những hình ảnh cần thiết. Không những thế, với chiếc máy quay này người dùng còn có thể dễ dàng tải những đoạn video đã quay sang PC hoặc lên mạng YouTube. Sự thành công của Flip đã có tác động to lớn đến dịch vụ chia sẻ video số trực tuyến, đồng thời buộc các đối thủ như Sony và Samsung cũng phải tung ra các sản phẩm tương tự để cạnh tranh nhằm tránh để mất thị trường.

Thông tin cá nhân: Jonathan Kaplan sinh ngày 25/11/1947 tại thủ đô Paris, nước Pháp. Ông là nhà làm phim người Mỹ nổi tiếng với tác phẩm The Accused (1988), trong đó có cảnh cưỡng hiếp gây xôn xao dư luận một thời.

11. “Kẻ truyền tin” Loic Le Meur (Leweb3.com, seesmic.com)

Giỏi giao tiếp là yếu tố đã giúp Le Meur có được những thành công vang dội. Không chỉ sáng lập nên hội nghị Le Web - một diễn đàn quy tụ giới blogger toàn cầu được tổ chức thường niên tại Paris - mà Le Meur còn là người đã xây dựng một trong những diễn đàn nổi tiếng nhất ở Pháp và nắm vị trí điều hành một loạt các công ty khác nhau.

Hiện hiếm người nào hiểu và quan tâm đến Twitter (*) cũng như các hình thái dịch vụ giao tiếp trực tuyến ngắn gọn hơn Le Meur. Và Le Meur đã đặt cược những hiểu biết đó vào công ty có tên Seesmic. Sản phẩm chủ chốt của công ty này là một biến thể của Twitter. Dịch vụ này cho phép người dùng có thể đưa lên mạng những đoạn video ngắn gọn để đáp lại nội dung video của một người khác.

Thông tin cá nhân: Loïc Le Meur (sinh ngày 14/7/1972) là một doanh nhân kiêm blogger người Pháp. Cuối năm 2006, Le Meur trở thành một người ủng hộ ứng cử viên tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy và tham gia vào đội quân phục vụ chiến dịch tranh cử của ông này như một chuyên viên tư vấn đối với các chủ đề được công bố trên mạng Internet.

12. “Thương nhân” Jack Ma (Alibaba.com)

Jack Ma (43 tuổi) là một điển hình trong giới thương nhân Trung Quốc. Người vốn trước đây chỉ là một giáo viên trung học nhưng đã sáng lập và đưa Alibaba Group trở thành một hãng thương mại điện tử hàng đầu Trung Quốc. “Con bài then chốt” của Alibaba Group chính là website Alibaba.com - một dịch vụ thương mại điện tử B2B (Business-to-Business) - kết nối các nhà xuất - nhập khẩu vừa và nhỏ của Trung Quốc với đối tác trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, Alibaba Group còn nắm trong tay quyền kiểm soát website Yahoo China và Taobao - website hàng đầu Trung Quốc dành cho người tiêu dùng.

Tháng mười một năm ngoái Jack Ma đã dẫn dắt Alibaba Group thực hiện thành công việc phát hành cổ phiếu cá nhân cho các nhà đầu tư chiến lược, thu về tới 1,5 tỉ USD để tài trợ cho các dự án mở rộng sang thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ của hãng.

Thông tin cá nhân: Jack Ma (sinh tháng 11/1964) là người sáng lập kiêm giám đốc điều hành của tập đoàn thương mại điện tử Alibaba. Ông được mệnh danh là “ông trùm thương mại điện tử Trung Quốc” có tầm nhìn xa trông rộng.

13. “Nhà xuất bản” Matt Mullenweg (Wordpress.org)

Các hình thái truyền thông xã hội ngày càng được coi trọng chính là yếu tố làm nên những thành công vang dội cho WordPress - dịch vụ blog nổi tiếng nhất trong giới blogger toàn cầu hiện nay. Ngoài ra mã nguồn mở là một yếu tố khác giúp mang lại tên tuổi cho WordPress. Năm 2001, khi bắt đầu “sự nghiệp viết blog” Matt Mullenweg đã sử dụng một phần mềm nguồn mở để phát triển nên những công cụ web cho riêng mình. Đây chính là nền tảng đầu tiên cho WordPress.

Năm ngoái lượng người truy cập WordPress đã đạt tới con số 103 triệu, tăng gấp hai lần so với cùng kỳ năm trước đó và gấp hơn năm lần lượng truy cập của đối thủ cạnh tranh Typepad (20 triệu). Đến nay, WordPress vẫn đang tiếp tục đà phát triển rất mạnh.

Thông tin cá nhân: Matthew Charles Mullenweg (sinh ngày 11/1/1984 tại Houston, Texas) là nhà phát triển phần mềm mã nguồn mở dành cho blog nổi tiếng WordPress, đồng thời là tác giả của blog Photo Matt. Sau khi nghỉ việc tại CNET, anh đầu tư phần lớn thời gian của mình vào việc phát triển nhiều dự án mã nguồn mở và tham gia thường xuyên các hội nghị công nghệ thông tin. Cuối năm 2005, Mullenweg khởi dựng Automattic, một dự án thương mại sau WordPress.

14. “Ông trùm truyền thông” Rupert Murdoch (Myspace.com)

Sự nghiệp của Rupert Murdoch có thể nói là gắn liền với sự phát triển của lĩnh vực truyền thông. Murdoch đã biến mọi phương tiện truyền thông có trong tay trở thành “con gà đẻ trứng vàng” mang lại cho ông hàng tỉ USD lợi nhuận. Mục tiêu của Murdoch hiện nay là lặp lại những thành công đã giành được với MySpace - mạng xã hội ảo mà News Corp đã mua lại năm 2005 với giá khoảng 580 triệu USD.

Và từ đó đến nay, MySpace đã “thay da đổi thịt” từ một website chỉ cho phép người dùng gửi tin nhắn cho bạn bè và nghe nhạc không có bản quyền trở thành một công cụ web giải trí đúng nghĩa với 117 triệu người dùng toàn cầu và doanh thu hằng năm lên tới 800 triệu USD. Ngoài ra MySpace đã ký được hàng loạt hợp đồng phát lại các chương trình truyền hình và liên doanh với hãng thu âm lớn cho ra đời dịch vụ âm nhạc MySpace Music. Thách thức lớn nhất hiện nay của Murdoch là biến khối thông tin dữ liệu khổng lồ có được sau bao nhiêu năm thành doanh thu cho quảng cáo, hòng cạnh tranh với các đối thủ trong đó có Yahoo.

Thông tin cá nhân: Keith Rupert Murdoch (sinh 11/3/1931 tại Melbourne), thường được biết đến với cái tên Rupert Murdoch, là một ông trùm truyền thông toàn cầu người Úc-Mỹ. Ông là cổ đông, chủ tịch, giám đốc điều hành của News Corporation. Bắt đầu sự nghiệp với báo giấy, tạp chí, và những kênh truyền hình tại quê nhà Úc, Murdoch đã phát triển News Corp tới thị trường truyền thông Anh, Mỹ và châu Á. Những năm gần đây ông trở thành nhà đầu tư hàng đầu trong lĩnh vực truyền hình vệ tinh cũng như ngành công nghiệp điện ảnh, Internet và truyền thông. Theo tạp chí Forbes, Murdoch là người giàu thứ 32 tại Mỹ với số tài sản lên đến 7,7 tỉ USD.

15. “Người kết nối cộng đồng” Craig Newmark (Craigslist.com)

Năm 2004, Craig Newmark - cựu chuyên gia tư vấn của Charles Schwab - khai trương website Craigslist với mục tiêu giúp kết nối cộng đồng và quảng bá sự kiện. Và kể từ đó bằng hình thức quảng cáo và đăng tin rao bán miễn phí, Craigslist đã góp phần tạo nên những thay đổi lớn trong dịch vụ quảng cáo và mô hình kinh doanh của báo in.

Song có một điều là đừng bao giờ hỏi Newmark về tầm ảnh hưởng của Craigslist bởi Newmark sẽ nói rằng anh đầu tư vào website này không phải để kiếm tiền. Bằng chứng rõ rệt là sau sự kiện một nhân viên của Craigslist đã bán 25% cổ phần hãng thuộc sở hữu của anh ta cho eBay, Newmark đã đâm đơn khởi kiện, cáo buộc “người khổng lồ” trong lĩnh vực thương mại điện tử này đang có âm mưu biến Craigslist trở thành một bộ phận kinh doanh của hãng này.

Thông tin cá nhân: Craig Alexander Newmark (sinh ngày 6/12/1952 tại Morristown, New Jersey) nổi tiếng trong thế giới mạng nhờ sáng lập ra website Craigslist, chủ yếu liên quan đến spammer và scammer.

16. “Tài xế chuyên nghiệp” Gabe Rivera – (Techmeme.com)

Bằng cách tập hợp tin tức nổi bật về lĩnh vực công nghệ từ hơn 1.000 trang blog và hãng thông tấn chính thống, Techmeme của Gabe Rivera đã nhanh chóng trở thành địa chỉ không thể bỏ qua của những người đam mê công nghệ.

Không giống Digg và một số website cộng đồng khác, Techmeme hoạt động trên cơ chế tự động hoàn toàn. Rivera đã cố gắng nghiên cứu thay đổi thuật toán cần thiết nhưng tin tức trên Techmeme vẫn được đánh giá theo liên kết và mức độ được quan tâm trên các trang blog. Năm 2007, Techmeme có thêm một vùng giúp hiển thị đầy đủ nguồn tin của những tin tức được bạn đọc quan tâm nhất đã được đưa lên trang.

Thông tin cá nhân: Gabe là người sáng lập TechMeme, một dịch vụ tin tức công nghệ phổ biến nhất trênthế giới mạng hiện nay.

17. “Cậu bé poster” Kevin Rose (Digg.com)

Đang theo học ngành khoa học máy tính ở Trường ĐH Nevada, Las Vegas nhưng Kevin Rose bỏ dở giữa chừng để sáng lập Digg.com và nhờ đó trở thành một trong những gương mặt nổi bật nhất trong số những người mới nổi trên thế giới mạng.

Nhờ tận dụng tối đa ưu thế của ứng dụng chỉnh sửa văn bản trực tuyến công với việc cung cấp khả năng được đưa lên mạng và bầu chọn tin tức nổi bật, Digg đã thay đổi hoàn toàn cách thức người dùng ngày nay tiếp cận với thông tin. Hiện mỗi tháng có 10-22 triệu lượt người dùng truy cập vào Digg. Website này hiện cũng đang nằm trong “tầm ngắm” của Google và Microsoft.

Thông tin cá nhân: Robert Kevin Rose (sinh ngày 21/2/1977 tại California) là một doanh nhân có công sáng lập ra Revision3, Pownce, và nổi danh nhất hiện nay là Digg.

18. “Người khổng lồ” Sheryl Sandberg (Facebook.com)

Trước khi Sheryl Sandberg về với Facebook, mạng xã hội ảo trực tuyến mang đậm nét văn hóa tự do phóng khoáng, đặc trưng những kỹ sư công nghệ thông tin trẻ tuổi. Nét đặc trưng mà Facebook đã mang theo mình khi được Mark Zuckerberg sinh ra trong một căn phòng ký túc xá tại ĐH Havard (Mỹ).

Mọi sự bắt đầu thay đổi kể từ tháng 4/2008 khi người phụ nữ từng là giám đốc điều hành “gã khổng lồ tìm kiếm” Google trở thành giám đốc hoạt động (COO) của Facebook. Người phụ nữ 38 tuổi này thật sự đã mang đến “tư tưởng người lớn” giúp Facebook nhanh chóng trưởng thành. Nếu có ai muốn biết làm thế nào kiếm được tiền từ thế giới web 2.0 thì hãy đến hỏi Sandberg.

Trách nhiệm chính của Sandberg hiện nay là phải giúp Facebook mở rộng hoạt động và xây dựng mô hình quảng cáo trực tuyến cho riêng mình.

Thông tin cá nhân: Sheryl Sandberg là tổng giám đốc điều hành của Facebook Inc. Bà tốt nghiệp trường đại học Harvard chuyên ngành kinh doanh. Trước khi đầu quân cho Facebook, bà là nhân sự cốt cán tại Google với nhiều thành tựu như mở rộng những sản phẩm quảng cáo của Google trong đó có Google AdWords. Năm 2007, ở tuổi 38, bà lọt vào danh sách 50 người phụ nữ quyền lực nhất của tạp chí Fortune 50.

19. “Nhà giáo dục và giải trí” Jon Stewart (Thedailyshow.com)

Có thể nói tầm ảnh hưởng trên thế giới mạng trực tuyến của Jon Stewart đã tăng theo cấp số nhân tỉ lệ thuận với độ nóng của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Chính những tranh chấp với YouTube về việc website này cho đăng tải một số video vi phạm bản quyền của mình đã giúp Comedy Central đi đến quyết định cung cấp miễn phí và cho phép người dùng thoải mái chia sẻ những nội dung video đó thông qua một website chính thức riêng của hãng này - website The Daily Show. Và đến nay, The Daily Show đã trở thành một địa chỉ mà ở đó người dùng Internet sẽ có được một cái nhìn toàn cảnh tốt nhất về cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ.

Thông tin cá nhân: Jon Stewart (tên khai sinh là Jonathan Stuart Leibowitz; sinh ngày 28/11/1962) là nhân vật hoạt động tích cực trong lĩnh vực giải trí và có một vị thế chính trị vững chắc. Ông là nhà hài kịch, diễn viên, nhà văn và nhà sản xuất điện ảnh nổi tiếng với chương trình The Daily Show.

20. “Người đàn ông tiền bạc” Peter Thiel (Clariumcapital.com, thefoundersfund.com)

Không chỉ là một thành viên sáng giá nhất trong đội ngũ nhân viên của nhà cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến PayPal, Peter Thiel còn là nhà đầu tư danh tiếng. Thông qua Founders Fund, Thiel đã đầu tư vào hàng loạt công ty mới nổi có tiếng nhất ở Thung lung Silicon như Facebook, Slide hay Yammer.

Ngoài ra người đàn ông này còn đứng ra thành lập một quỹ quản lý đầu tư riêng chuyên giúp đỡ các doanh nhân trong lĩnh vực Web 2.0, đặc biệt là những người không cần phải có quá nhiều vốn mới có thể biến ý tưởng của họ thành hiện thực và không muốn đánh đổi nguồn hỗ trợ đầu tư bằng một số cổ phần quá lớn trong doanh nghiệp do họ làm chủ. Sau khi bán lại PayPal cho eBay, Thiel rời hãng và đứng ra thành lập quỹ quản lý đầu tư Clarium Capital Management. Hiện công ty này quản lý một nguồn vốn đầu tư lên đến 7 tỉ USD.

Thông tin cá nhân: Peter Andreas Thiel (sinh năm 1967) là thương nhân người Mỹ kiêm nhà đầu tư mạo hiểm. Cùng với Max Levchin, Thiel sáng lập nên PayPal và trở thành CEO của công ty này. Ông là một trong những nhà đầu tư bỏ tiền cho Facebook và hiện đang nằm trong thành phần ban giám đốc của công ty này. Tạp chí Forbes xếp ông ở vị trí 377 trong danh sách những người giàu nhất thế giới với tổng tài sản trị giá 1,3 tỉ USD.

21. “Thợ thủ công” Maria Thomas (etsy.com)

Etsy.com chỉ là một công ty nhỏ nhưng lại có tiềm năng rất lớn. Là một địa chỉ cho phép người dùng Internet có thể mua hoặc bán các sản phẩm thủ công, doanh thu năm 2007 của website mới chỉ 3 tuổi đời này đã lên tới 27 triệu USD. Điều đáng nói ở đây là Etsy kiếm được khoản doanh thu như thế mà chỉ phải đầu tư rất ít cho công tác quảng bá (marketing).

Bí mật thành công của Etsy là gì? Đó là đánh trúng tâm lý cảm thấy nhàm chán đối với những sự việc bình thường và thường xuyên lặp đi lặp lại quá nhiều của người tiêu dùng. Nhiệm vụ của Maria Thomas là phải làm thế nào để người tiêu dùng biết đến Etsy và biết đó là một giải pháp thay thế tất cả những gì đã trở nên quá quen thuộc với họ. Có thể nói Thomas là người rất có kinh nghiệm trong những việc như thế này - xây dựng một mô hình mới dựa trên những thói quen cũ.

Thông tin cá nhân: Trước khi gia nhập Etsy vào tháng 5/2008 với trọng trách nâng công ty này lên một tầm cao mới trên toàn cầu, Maria Thomas có 6 năm rưỡi là Phó giám đốc cấp cao kiêm giám đốc điều hành của NPR Digital Media. Bà từng là nhân sự cốt cán tại Amazon.com với vai trò là nhà quản lý cao cấp.

22. “Thuyết khách” Anssi Vanjoki (nokia.com)

Anssi Vanjoki là người ủng hộ mạnh mẽ nhất cho chiến lược biến Nokia từ một nhà sản xuất phần cứng thành một nhà cung cấp dịch vụ Internet di động. Ở cương vị phó chủ tịch điều hành phụ trách phát triển thị trường, nhiệm vụ của Vanjoki là làm thế nào thuyết phục khách hàng và đối tác kinh doanh của Nokia rằng sản phẩm của Nokia không chỉ dành để thực hiện cuộc gọi thông thường hoặc chỉ để chụp ảnh.

“Máy tính đa phương tiện” - thuật ngữ được Vanjoki dùng để gọi sản phẩm “điện thoại thông minh” của Nokia - ngày nay đang từng bước trở thành một cổng kết nối đến Internet, dịch vụ trực tuyến, mạng xã hội ảo, tải nhạc, định vị toàn cầu…

Tất cả những gì Nokia cần hiện nay là sự quyết tâm theo đuổi đến cùng những gì Vanjoki đã vạch ra, quyết tâm “tuyên chiến” với những đối thủ cũ có như Research in Motion và mới có như Apple, Google.

Thông tin cá nhân: Anssi Vanjoki gia nhập tập đoàn Nokia vào năm 1991. Chỉ 7 năm sau đó, bà trở thành Phó chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên ban giám đốc cấp cao của công ty này. Vanjoki đồng thời là chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn Amer Group Plc.

23. “Người của cộng đồng” Jimmy Wales (wikia-inc.com/wiki/wikia)

Jimmy Wales được biết đến nhiều nhất trong vai trò là “cha đẻ” Wikipedia. Nếu như năm 2001 Wikipedia mới chỉ là một website nhỏ hầu như chưa được biết đến, thì nay đã trở thành một cuốn đại từ điển bách khoa toàn thư trực tuyến cung cấp cho người dùng Internet mọi thông tin liên quan đến các nét văn hóa phổ biến. Wikipedia được Alexa xếp hạng vào một trong 10 website phổ biến nhất thế giới.

Nhưng giờ đây, Wales còn được biết đến như “người đứng đầu lực lượng chống đối gã khổng lồ tìm kiếm Google”. Wales đã đứng ra thành lập Wikia Inc nhắm đến việc phát triển công cụ tìm kiếm nguồn mở Wikia Search. Hiện dự án này đã nhận được 4 triệu USD nguồn vốn đầu tư từ Bessemer Venture Partners và Omidyar Network.

Thông tin cá nhân: Jimmy Donal Wales (tên hiệu là Jimbo; sinh vào tháng 8/1966) là nhà sáng lập và Chủ tịch Quỹ Hỗ trợ Wikimedia, một định chế phi lợi nhuận điều hành bách khoa toàn thư mở Wikipedia cùng các đề án wiki khác.

24. Blogger Evan Williams (Twitter.com)

Evan Williams có sở trưởng trong việc khám phá những phương thức giữ liên lạc ưa thích của chúng ta - thậm trí là trước cả khi chúng ta biết về nó. Năm 1999 Williams khai trương dịch vụ Blogger hướng đến việc cho phép người dùng thoải mái bày tỏ suy nghĩ cá nhân trên mạng Internet. Blogger đã giúp biến bất kỳ ai được trang bị một chiếc PC có kết nối mạng Internet trở thành một nhà xuất bản.

Sau khi nhượng Blogger lại cho Google, Williams tiếp tục sáng lập dịch vụ cung cấp nội dung nhạc số và video trực tuyến Odeo. Song dịch vụ này lại không mấy thành công như Williams mong đợi. Tuy nhiên, trong thời gian này Jack Dorsey - một nhân viên trong công ty của Williams - đã nảy sinh ý tưởng về Twitter. Chỉ trong hai năm sau đó Twitter đã bùng nổ mạnh mẽ và trở thành một phương thức giữ liên lạc trực tuyến mới.

Thông tin cá nhân: Evan Williams (sinh ngày 31/3/1972 tại Nebraska) là một doanh nhân người Mỹ sáng lập khá nhiều công ty Internet. Williams và một người bạn tên Meg Hourihan đã đồng sáng lập ra Pyra Labs - một phần mềm quản lý dự án mà sau này được phát triển dưới cái tên Blogger, một trong những ứng dụng web đầu tiên trong việc tạo lập và quản lý blogs. Ngày 17 tháng 2 năm 2003, Google đã mua lại Pyra. Sau hơn 1 năm làm việc tại Google, Williams quyết định tách khỏi công ty này và đồng sáng lập nên một số công ty Internet khác như Odeo, chuyên podcasting; Obvious Corp và Twitter. Tạp chí PC đã chọn Evan Williams là Nhân vật của năm 2004.

25. “Chiến binh hiếu thắng” Jerry Yang (Yahoo.com)

Mặc dù lời đề nghị được mua lại với giá 47,5 tỉ USD đã được rút lại nhưng có lẽ chiến dịch “chống Microsoft” ở Yahoo vẫn chưa thể chấm dứt. Nhiệm vụ của Jerry Yang - người đồng sáng lập kiêm giám đốc điều hành Yahoo - là phải tìm được cách khôi phục sự tăng trưởng cho “cây đại thụ Internet”. Hiện Yang đặt cược tất cả vào những dịch vụ mới như hệ thống quảng cáo hiển thị.

Ở phía bên kia mặt trận, Carl Icahn cùng hai đồng nhiệm khác trong ban lãnh đạo Yahoo và rất nhiều cổ đông khác của hãng đều vẫn mong muốn bản hợp đồng sáp nhập với Microsoft. Cùng lúc đó, các cơ quan quản lý của Mỹ cũng đang xem xét bản hợp đồng hợp tác quảng cáo giữa Yahoo và Google. Trong điều kiện sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ đã ảnh hưởng không ít đến doanh thu quảng cáo của Yahoo, những nỗ lực duy trì sự độc lập cho Yahoo của Jang sẽ phải đối mặt với không ít thách thức.

Thông tin cá nhân: Jerry Yang (Dương Trí Viễn, sinh ngày 6/11/1968) là một thương nhân quốc tịch Mỹ. Jerry Yang là người Hoa sinh năm 1968 tại Đài Bắc, thủ phủ của Đài Loan. Đến năm 10 tuổi, Jerry Yang cùng gia đình di cư sang San Jose thuộc bang California của Mỹ. Anh là nhà đồng sáng lập kiêm giám đốc điều hành Yahoo! Inc. Mặc dù mới 30 tuổi, Jerry Yang đã là chủ nhân của công cụ tìm kiếm nổi tiếng và đã có trong tay một tài sản khổng lồ lên tới 2,3 tỉ USD (năm 2008) khiến anh lọt vào danh sách những người giàu có nhất thế giới do tạp chí Forbes xếp hạng.

(Theo BusinessWeek)

Thursday, October 16, 2008

Web 3.0: Mới chỉ là ước đoán

Khi người sử dụng vẫn chưa kịp quen với khái niệm về web 2.0, thì ngày 19-9 vừa qua, trang Yeuamnhac.com (YAN) tuyên bố chính thức đưa vào ứng dụng công cụ tìm kiếm âm nhạc thông minh với “thuật ngữ” rất kêu: “Công nghệ Web 3.0” (Theo PCWorld.com.vn, ngày 18-9-2008).

Định nghĩa Web 3.0

Theo Wikipedia, thì “Web 3.0 là một thuật ngữ được sử dụng để miêu tả giai đoạn phát triển tiếp theo của web sau Web 2.0, xuất phát từ những công nghệ đang nổi như Semantic Web, làm thay đổi cách thức web được sử dụng. Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên bởi John Markoff trên tờ New York Times năm 2006”.

Hiểu một cách đơn giản, Web 3.0 là giai đoạn phát triển, hoàn thiện những tính năng còn thiếu của Web 2.0 mà nét đặc trưng trong giai đoạn này là Semantic Web. “Semantic” trong tiếng Anh nghĩa là “về ngôn từ, thuộc ngữ nghĩa”. Công nghệ Semantic Web có thể phân tích và “hiểu” những thông tin, nội dung, hành vi của bạn trên web, nhờ đó đáp ứng được nhu cầu của bạn.

Ví dụ, khi bạn tìm kiếm Obama trên Google, Google sẽ chỉ trả về thông tin về ứng cử viên Tổng thống Mỹ Barack Obama giữa hàng loạt thông tin về các Obama khác; hay khi bạn vào một trang web âm nhạc, căn cứ vào những bài hát bạn nghe, trang đó sẽ tự động gợi ý cho bạn những bài bạn thích hay thông tin về nghệ sĩ bạn quan tâm.

Nhiều người dùng Semantic Web để chỉ Web 3.0 hoặc ngược lại, nhưng trên thực tế Semantic Web chỉ là một trong rất nhiều công nghệ sử dụng trong thế hệ Web 3.0. Theo blog Doquangtu.net, cách gọi như vậy là thể theo tập quán sử dụng từ thông thường. Trong nhiều trường hợp, người ta sử dụng đặc điểm đặc trưng nhất của một thời kỳ nhất định để miêu tả về thời kỳ đó. Một điều kỳ lạ là lần này, khi tôi gõ cửa một vài chuyên gia trong giới công nghệ để hỏi về Web 3.0 thì hầu hết đều trả lời: “Tôi cũng không hiểu”.

Tiến sĩ Trần Thế Truyền, Nghiên cứu viên ngành máy tính Đại học Curtis (Úc) kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển tại Ava Group, cho biết: “Mặc dù đã có một số cuộc hội thảo nhưng thực ra Web 3.0 vẫn đang trong giai đoạn định hình, chính vì thế ai muốn bàn luận về nó cũng được”. Rõ ràng, Web 3.0 còn quá mới mẻ để có thể định nghĩa rõ ràng trong phạm vi một bài viết. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể quan sát và dự đoán ít nhiều xu hướng của nó.

Việt Nam đã có Web 3.0?

Web 3.0: Mới chỉ là ước đoánSau tuyên bố về Web 3.0 của YAN, ngày 25-9, blog của nhóm phát triển Yume xuất hiện bài viết “Web 3.0 – Web là Tôi – Tôi là Web”. Phải chăng Web 3.0 ở Việt Nam đã phát triển đến như thế?

Khi được hỏi, anh Nguyễn Minh Hiếu (*), Giám đốc và đồng sáng lập viên Công ty cổ phần Hurama, đơn vị sở hữu trang so sánh giá http://aha.vn, hỏi lại một cách đơn giản: “Trên thế giới đã có Web 3.0 chưa?” Câu trả lời cho câu hỏi của anh Hiếu là chưa.

Theo anh Hiếu, tất cả các trang như Amazon, eBay... đều ít nhiều đã có các tính năng được coi là của Web 3.0 từ khá lâu rồi. Đến một giai đoạn nào đó, khi các đặc điểm đó trở nên rõ ràng nhất, người ta sẽ tổng hợp lại và gọi đó là Web 3.0. “Người ta có thể gọi đó là bất cứ thứ gì, điều đáng nói là những giá trị nó mang lại cho người sử dụng,” anh Hiếu cho biết.

Đỗ Quang Tú, một thành viên trong nhóm Tư vấn chiến lược trực tuyến của YAN, cũng khẳng định: “YAN chưa bao giờ chính thức công bố một sản phẩm Web 3.0, mà nhóm chỉ đang nỗ lực nghiên cứu và tận dụng những xu hướng của Web 3.0”.

Có thể thấy Web 3.0 chỉ là một “chiêu” tiếp thị nho nhỏ các công ty sử dụng cho sản phẩm của mình và rõ ràng đã đạt được một số thành công nhất định. Trên khắp các diễn đàn và blog, “dân” công nghệ xôn xao bàn tán phân tích tính thực hư của những tuyên bố này.

Hy vọng kiếm tiền từ Web 3.0?

Có một cách nhìn về Web 3.0 được nhiều người làm dịch vụ web Việt Nam ủng hộ, đó là : “Web 2.0 giúp bạn kết bạn, còn Web 3.0 giúp bạn kiếm tiền”. Trong giai đoạn mà doanh thu từ Web 2.0 vẫn còn là một dấu chấm hỏi, nhận định này không phải là không có cơ sở. Bản chất của Web 3.0 là sự phát triển, bổ sung các tính năng còn thiếu của Web 2.0, nên rất có thể Web 3.0 sẽ giải quyết được câu hỏi còn bỏ ngỏ từ Web 2.0.

Rick Rodgers, Giám đốc Cross-Border Trade tại PeaceSoft (đơn vị sở hữu http://chodientu.com), cho biết: “Xét trên phương diện cá nhân, tôi hết sức quan tâm đến Web 3.0 bởi rất có thể đây sẽ là cơ hội lớn nhất cho một sự thay đổi thực sự trong mô hình kinh doanh. Semantic Web hiểu bạn, giúp bạn quản lý thông tin một cách dễ dàng, tiết kiệm thời gian và tiền bạc. Quản lý thông tin có tiềm năng lợi nhuận khổng lồ”.

Giải thích rõ hơn, Rick Rodgers cho biết nếu phần lớn Web 2.0 chỉ giúp bạn giải trí, kết nối mọi người với nhau, thì Web 3.0 có tính thực tiễn cao hơn giúp mọi người giải quyết công việc. Nếu Web 2.0 thu tiền từ người sử dụng, thì Web 3.0 có thể thu tiền từ các doanh nghiệp bởi tính hiệu quả trong công việc mà nó mang lại.

Cần phải nhắc lại một lần nữa là Web 3.0 còn quá mới, thậm chí chưa có trang nào đủ tự tin để nhận mình là một sản phẩm Web 3.0 hoàn chỉnh, nên tất cả chỉ là ước đoán. Tuy nhiên, với những gì đã, đang và sắp sửa diễn ra, rất có thể đây sẽ là bước đột phá về công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến toàn ngành dịch vụ web.

(Theo TBKTSG)

Friday, August 1, 2008

Thiết Kế Website

Khái quát chung

Thiết kế Website là quá trình sử dụng công cụ, chương trình thiết kế nhằm tạo ra trang web. Trang web có thể đơn giản chỉ là một file text văn bản, hay hình ảnh, video, các ứng dụng chạy trực tuyến java... Các website hiện tại thông thường được viết bằng ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML. Thiết kế web hiểu theo diện rộng bao gồm cả quá trình viết các mã nguồn chương trình cho các ngôn ngữ tạo web như ASP, PHP, CGI, Python, Java...

Mục đích của Website cần thiết kế

Bước đầu tiên trong công đoạn thiết kế một Website là chúng ta đã có những quyết định chắc chắn về việc chúng ta sẽ "xuất bản" cái gì với Website của mình, chúng ta nên: Xác định đối tượng độc giả của website. Website có mục đích rõ ràng. Thiết lập các chủ đề chính của website. Thiết kế các khối thông tin chủ yếu mà website sẽ cung cấp. Xác định mục tiêu cơ bản của website Xác định độc giả Các trang web (homepage) cho các chương trình duyệt web cũng nên tương tự như các bìa tạp chí. Mục tiêu là tính toàn thể với hình ảnh bắt mắt, chủ đề nội dung gây chú ý. Tất cả các liên kết trên trang chủ này nên chỉ tiếp đến các trang bên trong website. Chúng ta cũng phải tạo được thông báo ngắn gọn, súc tích cái có trong website có thể được độc giả quan tâm.

Thiết kế giao diện

Các độc giả của web không chỉ xem thông tin, họ tương tác với nó theo cách thức mới không như các tiền lệ trong việc thiết kế tài liệu giấy. Giao diện người dùng đồ hoạ (GUI) của hệ thống, cộng thêm các tương tác ẩn dụ, hình ảnh và các quan niệm được sử dụng để chuyển tải mọi tính năng, thông tin lên màn hình, và trải qua thời gian các đặc thù trực quan của các thành phần giao diện đồ hoạ và sự tương tác chức năng hoá đã tạo nên nét đặc trưng "nhìn thấy và cảm nhận" của các trang web cùng các mối liên kết hypertext. Thiết kế đồ hoạ và các hình ảnh "ký hiệu" trực giác không chỉ để làm đẹp trang web - đồ hoạ trở thành một phần được tích hợp của kinh nghiệm của độc giả đối với web site của chúng ta. Trang Web đối lập với thiết kế tài liệu thông thường Đại đa số nhận thức hiện tại của chúng ta về thông tin có cấu trúc bắt nguồn từ việc tổ chức các quyển sách, tạp chí xuất bản định kỳđã được in và công tác chỉ số hoá thư viện, các hệ thống phân loại được phát triển quanh các ấn bản đó. "Các tiêu chuẩn về hình thức" của các cuốn sách trong thế giới nói tiếng Anh đã được thiết lập cũng như công nhận rộng rãi; các hướng dẫn chi tiết cho việc toạ một cuốn sách có thể tìm đọc trong các quyển như The Chicago Manual of Style. Mọi đặc điểm cho một cuốn sách, từ mục lục đến chú thích, chỉ số đã được rút ra qua hàng thế kỷ, và người đọc trước kia cũng đã phải đối diện với các vấn đề tổ chức hệt như người đọc bây giờ của các tài liệu đa phương tiện (hypermedia).

Các tiền lệ trong in ấn

Mặc dù các tài liệu đa phương tiện trên mạng đưa ra các thách thức mới cho những nhà thiết kế thông tin, đại đa số hướng dẫn chúng ta cần đến để thiết kế, tạo lập, lắp ráp, hiệu chỉnh và tổ chức một media phong phú, đa dạng về căn bản không khác so với thực tế trong công việc của nhà xuất bản. Đa số trang web có thể được tạo ra phù hợp với các qui ước cho hình thức biên tập và tổ chức văn bản của The Chicago Manual of Style. Nhiều điều chúng ta cần biết về phương pháp tạo các tài liệu rõ ràng, bao quát, nhất quán có thể đọc trong các hướng dẫn như Xerox Publishing Standards: A Manual of style and Design. Hãy làm cho các trang web độc đáo Các trang World Wide Web khác sách và các tài liệu khác ở một nét cơ bản: các mối liên kết siêu văn bản cho phép người đọc truy nhập đến một trang web đơn lẻ không cần đến lời nói đầu hay tựa đề. Điều này thường có nghĩa là các đầu trang, chân trang của trang web sẽ phức tạp, nhiều thông tin hơn các trang in trên giấy. Có thể là vô lý, buồn cười khi lặp lại các thông tin bản quyền, tác giả, thời gian xuất bản ở tất cả các trang sách, nhưng một trang web riêng lẻ thường cần đến những thông tin này vì các trang đơn lẻ có thể chỉ là một phần nhỏ của cả web site chúng ta có mà độc giả đó có thể nhìn thấy. Vấn đề tạo các trang web độc đáo không chỉ có đối với các trang web. Các báo chuyên đề, tạp chí, đa số các báo ngày đều lặp lại thời gian phát hành, số bản tại phần đầu hay cuối từng trang vì họ biết độc giả của họ thường cắt các bài báo, hoặc photocopy các trang từ tạp chí và cần thông tin trích dẫn để theo dõi nguồn gốc nguyên bản của các bài.

Thiết kế giao diện cơ bản

Thiết kế hướng tới người sử dụng Giao diện đồ hoạ cho người sử dụng (GUI) được thiết kế nhằm cho người dùng điều khiển trực tiếp maý tính của họ. Ngày nay, người sử dụng yêu cầu một mức độ hoàn hảo của mọi thiết kế giao diện đồ hoạ, kể cả các trang web. Mục đích là cung cấp mọi cần thiết cho tất cả độc giả quan trọng của chúng ta, mô phỏng công nghệ web cho mọi mong chờ của họ, và không bao giờ đòi hỏi người đọc chỉ đơn giản là làm theo một giao diện mà đặt những cản trở không cần thiết lên con đường của họ.

Các giúp đỡ định hướng rõ ràng Với thực tại của công nghệ web, đa số độc giả tương tác với các trang web bằng cách thực hiện các liên kết giữa các tài liệu. Vấn đề chủ yếu của giao diện trong các website là độc giả không ý thức được họ đang ở đâu trong tổ chức thông tin. Các biểu tượng nhất quán, dễ hiểu, các lược đồ đồ hoạ đồng nhất và bản khái quát (đồ hoạ hay văn bản), màn hình tổng hợp có thể cho độc giả sự tin tưởng là họ có thể tìm thấy cái họ tìm mà không lãng phí thời gian. Độc giả phải luôn có khả năng quay trở lại trang chủ và các điểm chủ chốt trên website của chúng ta. Các liên kết cơ bản này nên có trên mọi trang web của chúng ta, nó thường là các nút ấn đồ hoạ với hai mục đích: tạo các mối liên kết cơ bản và giúp tạo một biểu tượng đồ hoạ thông báo cho độc giả biết họ vẫn còn đang ở trong website của chúng ta. Ví dụ, trên website của Netscape, thanh biểu tượng sau đây có tại cuối mỗi trang web:

Liên kết cố định và tương đối Không như các phím Back hay Forward trong các trình duyệt như Netscape và MS Internet Eplorer, Mosaic, chỉ có chức năng tương đối đến các trang mà độc giả vừa rời khỏi, phím Trang tiếp và Trang trước trong các trang web là các liên kết cố định do chúng ta tạo nên chỉ đến một văn bản nhất định. Bắng cách tạo các phím lật trang, phím chỉ đến mục lục, chúng ta đã cung cấp cho độc giả phương tiện hiểu cách thức chúng ta tổ chức thông tin trên website, ngay cả khi họ đến không phải từ trang chủ, hoặc từ mục lục nội dụng. Phím ấn không cho phép độc giả đọc tin theo thứ tự họ chọn, nhưng cho phép họ đọc các trang liên tiếp như ta trình bày:

Các thành phần của site

Các website có thể vô cùng đa dạng về kiểu cách, nội dung, cách tổ chức, và mục đích, nhưng tất cả các website đều được thiết kế để thực hiện chức năng của chúng là các nguồn tài nguyên cùng chia sẻ những đặc điểm cơ bản.

Trang chủ (Home Page)

Tất cả các website đều được thiết lập quanh "home page" giữ nhiệm vụ như một điểm xuất phát đến các trang web phức tạp khác trong website. Trong hệ thống phân cấp, trang chủ chiếm vị trí trên đỉnh của sơ đồ. URL WWW của trang chủ cũng là địa chỉ web mà chúng ta sử dụng để hướng dẫn độc giả đến với website của chúng ta, và trong những năm tới địa chỉ của trang chủ quan trọng cũng như địa chỉ nhà riêng hay địa chỉ của một doanh nghiệp. Đầu trang chủ sẽ là cái đầu tiên độc giả nhìn thấy khi truy nhập đến website của chúng ta, do đó trang chủ được thiết kế thích hợp là điều kiện cơ bản để website thành công. Chiến lược thiết kế trang chủ rất biến hoá, dựa trên chức năng và yêu cầu của các độc giả đặc trưng của website, mục đích của website và cũng phụ thuộc vào tính chất, sự phức tạp của toàn bộ website.

Menu đồ hoạ hay văn bản

Quyết định cách bố trí cơ bản nhất cho trang chủ liên quan đến việc sử dụng đồ hoạ như thế nào trên trang web. Đa số các trang chủ của các doanh nghiệp, viện hay trường hiển thị ít nhất một thanh ảnh nhỏ (banner) trên đầu trang, và trên các trang thương mại, xu hướng lại là ảnh đồ hoạ toàn trang, phức tạp, được xây dựng từ các menu thay đổi liên tục tạo nên cảm giác như các trang multimedia của CD-ROM. Trang web nhiều ảnh đồ hoạ có thể có hiệu quả để gây sự chú ý của độc giả, nhưng lại tốn thời gian nạp xuống, đặc biệt khi độc giả kết nối với Internet qua modem hay mạng trục tốc độ thấp. Ngay cả khi độc giả truy nhập website với tốc độ Ethernet (10 Mbps), các menu đồ hoạ cũng chậm hơn danh sách các liên kết trên cơ sở text đến 10 lần. Ai là độc giả của trang chủ? Việc phân cách giữa các trang chủ trang trí đồ hoạ hấp dẫn, nạp xuống chậm với các trang text không chút thơ mộng, nhưng lại nạp nhanh đã phản ánh sự cần thiết phân biệt sự khác biệt đối tượng độc giả cùng nhu cầu của họ. Mục đích của đa số website là truyền tải thông tin nội tại (cho sinh viên, nhân viên và các khách hàng) và giao thiệp với các khách hàng quan trọng, nhưng một maket được thiết kế cẩn thận không chỉ mở rộng khả năng của một màn hình văn phòng. Bằng cách giữ ảnh đồ hoạ vừa phải về kích thước, trang web được nạp xuống không chậm lắm mà vẫn có menu đồ hoạ.

(Tổng hợp Internet)

Tuesday, July 29, 2008

Thế giới có 1 nghìn tỷ trang Web

Với hệ thống đặt chỉ số website được cho là lớn gấp 3 lần các máy tìm kiếm khác, Google thống kê đến ngày 25/7 thế giới đã có 1 nghìn tỷ trang web.

Khi Google bắt đầu chuyển sang thương mại hoá vào năm 1998, cơ sở dữ liệu chỉ số trang web của công ty lưu trữ là 26 triệu URL. Đến năm 2000, con số này đạt 1 tỷ. Máy tìm kiếm khổng lồ tuyên bố số trang web trên Internet tăng lên 8 tỷ vào năm 2005, chỉ tính riêng các chỉ số được thống kê từ homepage của mỗi địa chỉ.

Như vậy, chỉ số trang web của Google trong các năm 2000 - 2005 gia tăng với hệ số 8 và trong 3 năm gần đây, hệ số này được đẩy lên 125 lần.

Tuy nhiên hai kỹ sư phần mềm Jesse Alpert và Nissan Hajaj của Google, chính là tác giả của bản báo cáo này cũng thừa nhận rằng họ thực sự không biết được chính xác hiện nay có bao nhiêu trang web tồn tại. Vì thực chất số lượng các URL có thể là vô hạn, các trang web động có thể phát sinh ra các trang web theo ngày tháng được ấn định trước. Như vậy, các trang web luôn luôn nối tiếp nhau hình thành.

(Theo InformationWeek)

Thursday, July 24, 2008

Xây dựng chiến lược Website

1. Chiến lược?

Chiến lược hiểu một cách thông thường là Chiến Đấu với các đối thủ, với bản thân thông qua một Sách Lược cụ thể nhằm đạt được một mục tiêu nào đó mà bản thân bạn hoặc công ty bạn đã đề ra.

Chiến lược là phương hướng và quy mô của một tổ chức dài hạn, chiến lược sẽ mang lại lợi thế cho tổ chức thông qua việc thực hiện các chiến lược đã đề ra.

Bất cứ một công ty, doanh nghiệp đều phải có chiến lược, phương hướng, quy mô hoạt động nhằm mục đích cuối cùng là mang lại lợi nhuận, thanh thế cho tổ chức.

2. Chiến lược web là thế nào?

Bạn đã từng có rất nhiều chiến lược khác nhau, hướng vào thị trường khác nhau ở từng thời điểm khác nhau ví dụ trước đây bạn thực hiện chiến lược bằng cách đăng tin lên báo chí, truyền hình, phát brochure,… để hỗ trợ cho việc kinh doanh, thì thấy ngay lợi ích của nó đối với doanh nghiệp bạn. Nhưng hiện nay liệu việc thực hiện các chiến lược đó có thực sự tối ưu chưa trong khi đối thủ cạnh tranh của bạn đã có một bước tiến mới nhờ áp dụng khoa học công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh.

Bạn có biết tính đến thời điểm tháng 12 năm 2005 trên mạng Internet có hơn 40 triệu website với hơn 8 tỷ trang web. Nếu một người mỗi ngày tìm kiếm ra và xem 10 website mới thì phải mất 4 triệu ngày (12.000 năm) mới đọc qua hết số website có trên thế giới, đó là chưa kể ước tính mỗi tháng có 1.000.000 website mới ra đời, và dĩ nhiên, số website “chết” trong tháng vẫn không ít.

Bạn có khi nào đặt ra câu hỏi cho mình là tại sao lại có nhiều website như thế không? Thiết nghĩ đó là mục đích rõ ràng không cần suy nghĩ ai cũng biết là nó công cụ phục vụ kinh doanh rất thiết thực hiện nay vì chi phí thấp, quảng bá không giới hạn thời gian, địa điểm mang nó mang tính quốc tế đem lại lợi nhuận cao.

Tuy hiện nay không chắc rằng tất cả các website đều đem lại lợi ích thực sự là vì họ không có một chiến lược đúng đắn, khoa học cho việc kinh doanh trên mạng, và kinh nghiệm còn non yếu với việc áp dụng công nghệ này.

Nhưng bên cạnh đó có rất nhiều website hoạt động đem lại một thanh thế, một thương hiệu, một khoản lợi nhuận khổng lồ cho doanh nghiệp và có rất nhiều doanh nghiệp đã chuyển hướng chỉ thực hiện việc kinh doanh thông qua mang internet, web, email.

Do đó việc có một chiến lược xây dựng một webstie để có thể đem lại lợi nhuận là điều không thể thiếu, phải có sự phân tích, hoạch định, định hướng rõ ràng và phải được sự cố vấn đúng đắn, kịp thời của các những doanh nhân đã thành công trong lĩnh vực kinh doanh trên mạng hiện nay.

3. Lợi ích, tầm quan trọng của việc xây dựng một chiến lượt web?

Việc có một chiến lược web khoa học, đúng đắn sẽ mang lại giúp cho doanh nghiệp bạn vượt qua đối thủ cạnh tranh, đồng hành cùng với các doanh nghiệp tầm cở, có cơ hội cạnh tranh công bằng trên thị trường, theo kịp thời đại hội nhập vào thị trường quốc tế.

Đồng thời bạn còn có được những lợi ích thiết thực:

* Giảm chi phí đáng kể.
* Giúp doanh nghiệp có một website như mong muốn, đáp ứng xu hướng công nghệ và kinh doanh hiện đại.
* Nâng quy mô doanh nghiệp lên một tầm cao mới.
* Nâng thanh thế, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp ra toàn thế giới.
* Tạo ra một hệ thống quản lý hàng hoá, tin tức mang tính khoa học, dễ quản lý, dễ sử dụng, thuận tiện cho việc các đối tác, nhà cung cấp, khách hàng xem hay chọn sản phẩm để mua.

4. Tác động, ảnh hưởng của một chiến lược web lên doanh nghiệp

Đi đôi với sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế. Nó đòi hỏi doanh nghiệp của bạn phải nỗ lực hết mình để làm viẹc với năng lực và năng xuất cao.

Nhằm thay thế sức lao động thuần tuý của con người và thay đổi phương thức làm việc thủ công kém hiệu quả đã có rất nhiều doanh nghiệp đã bắt nhịp cùng thời đại, xây dựng cho mình một hệ thống quản lý văn phòng hiện đại hơn, thiết thực hơn, tiết kiệm thời gian trong việc quản lý công việc, quản lý lịch công tác, quản lý quan hệ khách hàng, quản lý nhân sự, quản lý tin tức nội bộ, quản lý sản phẩm, quản lý hình ảnh, quản lý văn bản, quản lý tin nhắn chỉ thông qua một công cụ hiện đại hiện nay là website. Và kế hoạch xây dựng website để nó đưa vào hoạt động đúng mục đích, yêu cầu của doanh nghiệp.

Vì vậy chiến lược web là công việc mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải suy nghĩ, đau đầu, vì nó chình là bộ mặt của của doanh nghiệp đông thời là công cụ quản lý hiệu quả nhất của doanh nghiệp trong thời điểm hiện nay và sau này.

(Tổng hợp Internet)

Lập trình Web và các khái niệm

Cùng với sự phát triển của CNTT cũng như Internet, việc phát triển các ứng dụng trên một máy đơn cũng đã mang lại nhiều lợi ích và được áp dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên, với sự gia tăng phát triển của ngành công nghiệp máy tính, xu hướng toàn cầu hoá nhất hiện nay, tin học phải mở rộng hơn để có thể khai thác nguồn tài nguyên Internet.

Trong mỗi doanh nghiệp việc phát triển các ứng dụng quản lý trên mạng càng có ý nghĩa hơn khi các mạng LAN hay WAN bùng nổ và ngày càng phổ biến. Các ứng dụng đó đảm bảo tính truy nhập tương tác từ nhiều phía và tài nguyên chỉ đặt một nơi mà ta gọi là server. Như thế các mạng sẽ mang lại cho chúng ta những lợi nhuận đáng kể. Và thực tế đã chứng tỏ điều đó, các ứng dụng đều hướng tới mạng và Internet, từ kinh doanh trên Internet, quảng cáo, hệ thống thư điện tử, cũng như thương mại điện tử. Các khái niệm đó đang gần gũi với chúng ta hơn.

Bài viết giới thiệu với các bạn một số khái niệm có liên quan đến lập trình Web. Đó là những khái niệm thường gặp khi làm việc với môi trường mạng và đó cũng là những nét đặc trưng khác biệt mà các bạn ít gặp khi lập trình trên các ứng dụng đơn lẻ.

1. URL

URL (Uniform Resource Locator) dùng để chỉ tài nguyên trên Internet. Sức mạnh của web là khả năng tạo ra những liên kết siêu văn bản đến các thông tin liên quan. Những thông tin này có thì là những trang web khác, những hình ảnh, âm thanh... Những liên kết này thường được biểu diễn bầng những chữ màu xanh có gạch dưới được gọi là anchor.

Các URL có thể được truy xuất thông qua một trình duyệt (Browser) như IE hay Netscape.

Ví dụ: Một URL có dạng http://www.hcmut.edu.vn/index.html

Trong đó: http: là giao thức

http://www.hcmut.edu.vn/ là địa chỉ máy chứa tài nguyên.

index.html là tên đường dẫn trên máy chứa tài nguyên.

Nhờ địa chỉ url mà ta có thể từ bất kỳ một máy nào trong mạng Internet truy nhập tới các trang web ở các website khác nhau.

2.Web Server/mail Server và hoạt động của browser WWW (World Wide Web)

Hoạt động truy xuất WWW giữa máy khách và web server theo cơ chế sau:

Server ứng dụng cung cấp dữ liệu mà người sử dụng cần đến hoặc trao đổi. Chỉ những người sử dụng đã đăng ký account mới được cấp web site chứa dữ liệu riêng của mình trên server này, mọi người sử dụng đều có thể truy xuất các URL được phép dùng chung trong server này.

Trước tiên trình duyệt thực hiện kết nối để nhận được program/server. Browser dùng địa chỉ miền tên như số điện thoại hay địa chỉ để đạt tới server.

Browser tìm địa chỉ tên miền - thông tin đi ngay sau http:// như trong http://www.hcmut.edu.vn/ ví dụ trên, trong đó http://www.hcmut.edu.vn/ là địa chỉ miền tên (cũng là địa chỉ máy chứa tài nguyên).

Sau đó browser sẽ gửi request header sau tới miền xác định:

* Một request header xác định file hay dịch vụ đang được request.

* Các fields request header, xác định browser.

* Thông tin đặc biệt thêm vào request.

* Bất kỳ dữ liệu nào đi cùng với request.

Tất cả những thông tin đó được gọi là request header HTTP. Chúng xác định đối với server thông tin căn bản mà client đang request và loại đáp ứng có thể được client chấp nhận. Scrver cũng lấy tất cả các header do client gửi tới thông qua biến môi trường (environments variables) để chương trình server xử lý. Server đáp ứng với response header. Header đáp ứng đầu tiên là dòng trạng thái cho client biết kết quả của việc tìm kiếm request url. Nếu trạng thái là thành công (Success) thì nội dung của request url được gửi trả lại client/browser và hiển thị trên màn hình máy tính của client.

3. HTML và Web page

Ngôn ngữ siêu văn bản (Hyper Text Markup Language) là một ngôn ngữ dùng để tạo trang web, chứa các trang văn bản và những tag (thẻ) định dạng báo cho web browser biết làm thế nào thông dịch và thể hiện trang web trên màn hình.

Web page là trang văn bản thô (text only), nhưng về mặt ngữ nghĩa gồm 2 nội dung:

- Đoạn văn bản cụ thể.

- Các tag (trường văn bản được viết theo qui định) miêu tả một hành vi nào đó, thường là một mối liên kết (hyperlink) đến trang web khác.

4. E-mail

- e-mail (electronic mail - thư điện tử) là hình thức gửi thông điệp (messages) ở dạng điện tử từ máy này sang máy khác trong mạng.

- Format của một e-mail:

Dạng format một e-mail cơ bản gồm hai thành phần: header + body:

+ header: chứa các hàng text kiểm soát e-mail.

+ body: nội dung cụ thể của e-mail.

Phần header gồm các nội dung cụ thể sau:

To: địa chỉ người nhận e-mail

Cc: địa chỉ người nhận cộng thêm

Bcc: địa chỉ những người nhận cộng thêm

From: thông tin về người gửi e-mail (địa chỉ)

Sender: địa chỉ người trực tiếp gửi e-mail

Rcceived: danh sách các Mail- Server trung chuyển

Return path: đường dẫn ngược trở lại Received

Date: ngày giờ gửi nhận e-mail

Reply to: địa chỉ hồi âm

Message: chỉ số nhận dạng e- mail

In Reply to: chỉ số nhận dạng e-mail này quay trở lại

Referece: những chỉ số e-mail tham khảo khác

Keywords: các keywords chính về nội dung

Subject: chủ đề chính của e-mail.

- Để nới rộng thêm ra ngoài văn bản thô người ta thêm vào các field kiểm soát gọi là MIME nới rộng sau:

Mime-Version: chỉ số version của MIME

Content-Description: chú thích về nội dung e-mail

Content-Id: chỉ số duy nhất

Content-Transfer-Encoding: cách thức mã hóa nội dung e-mail

Text: Text Only

Image : ảnh dạng .GIF, .JPEG

Audio: âm thanh WAVE

Video: Film Mfeg/chương trình bất kỳ (Octet-stream)

Application: Post Scripts chương trình dàn trang.

Chú ý: Các thông tin về phần header của e-mail trình bày ở đây rất cần để xử lý mail.

5. Lập trình CGI

- CGI (viết tắt của Common Gateway Interface) là một phương pháp cho phép giao tiếp giữa server và chương trình nhờ các định dạng đặc tả thông tin.

- Lập trình CGI cho phép viết chương trình nhận lệnh khởi đầu từ trang web, trang web dùng định dạng HTML để khởi tạo chương trình. Định dạng HTML trở thành phương pháp được chọn để gửi dữ liệu qua mạng vì dễ thiết lập một giao diện người sử dụng HTML định dạng và thẻ Input.

- Chương trình CGI chạy dưới biến môi trường duy nhất. Khi WWW khởi tạo chương trình CGI nó tạo ra một số thông tin đặc biệt cho chương trình và đáp ứng trở lại từ chương trình CGI. Trước khi chương trình CGI được khởi tạo, server WWW đã tạo ra một môi trường xử lý đặc biệt, môi trường này chứa các dữ liệu từ HTTP request header truyền đến. Sau đó server xác định loại file chương trình cần thực thi.

- Nói tóm lại lập trình CGI là viết chương trình nhận và truyền dữ liệu qua Internet tới WWW server. Chương trình CGI sử dụng dữ liệu đó và gửi đáp ứng HTML trở lại máy khách.

- Vai trò của HTML rất quan trọng trong lập trình CGI. Chương trình CGI được gọi qua một tag định dạng HTML chẳng hạn:

trong thông qua tag .. chương trình index.cgi sẽ được thực hiện.

- Dùng thuộc tính HTML định dạng method:

Form tag bắt đầu với một thuộc tính Method để báo cho browser biết cách thức mã hoá dữ liệu và nơi đặt dữ liệu chuyển tới server, nó được dùng để định nghĩa phần gì của file HTML được sử dụng cho người sử dụng input.

Cú pháp:

Thêm vào input tag cho định dạng HTML này ta được một active form:

- Input tag:

Có thể tạo input text, radio buttons, check boxes và một số loại khác.

Cú pháp:

- Submit button:

Với tag _ dùng để kích khởi gửi dữ liệu.

CGI và tag FORM trong HTML phối hợp với nhau tạo ra submit button dùng để kích hoạt chương trình CGI trên server cùng với các phương pháp.

- Method GET và POST:

Có 2 cách thức cho phép dữ liệu được chuyển tới chương trình CGI trên server.

GET gửi dữ liệu với mã URI header (Uniform Resource Identifier), dùng với HTML định dạng tag ở dạng sau:

6. PERL - ngôn ngữ lập trình cho CGI

- Có thể dùng nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau trên CGI:

Bourne shell; C shell; C/C++; Perl; Python; Visual basic; JavaScripts.

- Ngôn ngữ lập trình PERL (viết tắt của Practical Extraction and Report Languages) do Larry Wall xây dựng được dùng là một công cụ lập trình trên web vì Perl có nhiều ưu điểm:

+ Perl có sức mạnh và sự linh hoạt của ngôn ngữ lập trình cấp cao C.

+ Giống như các ngôn ngữ shell scripts, Perl không đòi hỏi biên dịch và link mã nguồn, thay vào đó chỉ cần gọi Perl thực thi chương trình đó.

+ Chạy được trên nhiều platfrom: UNIX, DOS, WINDOWS.

+ Perl chuyên về xử lý text, có nhiều hàm build-in, thích hợp với xử lý trang web trong thế giới WWW.

Ngoài ra Perl còn rất nhiều điểm mạnh như của các ngôn ngữ lập trình khác.

7. SQUID và WEBMIN

SQUID:

Squid là một proxy caching server cao cấp cho web máy khách, trợ giúp FTP, gopher, HTTP dữ liệu objects. Không giống như các caching software khác, Squid xử lý mọi request bằng quá trình đơn, non-blocking.

Squit chứa chương trình server chính là squid, một chương trình tìm kiếm hệ thống tên miền dnsserver (DNS - Domain Name System), một số chương trình và công cụ quản lý máy khách khác.

WEBMIN:

Webmin là một phần mềm quản trị trên UNIX thông qua web. Webmin có cấu trúc module mở và được cài đặt trên máy có cấu hình thấp, biến nó thành miniserver rất hữu dụng.

Webmin phát hành phiên bản đầu tiên (ver 0.1) ngày 05/10/1997 và phiên bản được sử dụng ở đây là ver 0.72.

Webmin được thiết kế cho phép dễ dàng thêm vào các module mới mà không làm thay đổi bất kỳ mã nguồn nào đã có.

8. Web Server Log Files và thông tin về người sử dụng dịch vụ web

Để quản lý các khách hàng trong dịch vụ của mình, người quản trị cần biết các thông tin về người sử dụng đã sử dụng các dịch vụ Internet thế nào: Số lần request, khối lượng, loại dịch vụ (HTTP, Email), thời gian sử dụng bao lâu và nhiều thông tin liên quan khác. Lấy các thông tin này từ đâu và xử lý nó thế nào? WWW server sẽ ghi lại thông tin về request của người sử dụng đó vào một file gọi là log file. Chẳng hạn như ta muốn tìm các thông tin về những người tới site của mình, dịch vụ HTTP (Hyper Text Transfer Protocol) cho phép giao tiếp giữa browser và web server qua một loạt các kết nối rời rạc để lấy text trên web page và thể hiện chúng, mỗi một lần request được thực hiện thì một bản ghi cho lần request đó được ghi vào một file log. Các request về web được http ghi vào file access_log còn e-mail được ghi vào file syslog trên UNIX.

Tuỳ thuộc vào từng loại mạng và server mà cấu trúc file log có thể khác nhau ở một vài điểm nhưng nhìn chung thông tin ghi lại đều phản ánh tên người sử dụng, ngày giờ sử dụng dịch vụ, khối lượng request và nhiều thông tin khác.

Dựa vào các fields của file log này người quản trị có thể thực hiện các thao tác monitor để quản lý khách hàng của mình.

(Theo VNPT)

Khách Truy Cập Trong Ngày

PCR Designs Group

Giải Pháp Kinh Doanh

Quản Trị Website

Quảng Bá Website

Thương Mại Điện Tử

Câu Chuyện Doanh Nhân

Thông Tin Chứng Khoán